Tiểu phẩm rất tình cờ

Rất tình cờ một tốp cán bộ, công nhân viên, hướng dẫn viên du lịch gặp nhau ở nhà tôi mừng Xuân mới. Bên màn ảnh nhỏ, sau khi xem xong chung kết cuộc thi khỏe đẹp thời trang trên VTV3, một tay lém lĩnh đột ngột nêu vấn đề: “Giả sử đầu thiên niên kỷ, ngành du lịch Việt Nam tổ chức thi khỏe đẹp nếu Thúy Kiều sống lại cũng sốt sắng lên đến dự, theo các vị liệu có trúng Hoa khôi hay không?
Không khí vui nhộn hẳn. Sau vài giây ngỡ ngàng,. Các nhà hùng biện tranh nhau phát biểu.
Một hướng dẫn viên du lịch nam:
– Thúy Kiều theo cụ Nguyễn Du tả là:
“Làn thu thủy nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hớn kém xanh”
Cha cha! Đẹp tuyệt! Hoa khôi là cái chắc! Nhất còn gì!
Nữ phiên dịch bổ sung:
– “Hai kiểu e lệ nép vào dưới hoa”
Là giàu nữ tính, tế nhị, duyên dáng thanh lịch, không xô bồ táo tợn, hở rốn phơi lưng, hở ngực, ngoáy mông như nhiều cô gái thời nay. Có thêm tiêu chuẩn rứa thì danh hiệu hoa hậu hẳn trong tầm tay.
Nhiều người khoái trá tán thưởng: – Có lý, có lý!
Một nhà tạo mốt của ngành du lịch lại băn khoăn:
– “ Một nhà tạo mốt của ngành du lịch lại băn khoăn:
– “ Mai cốt cách tuyết tinh thần”. Dáng điệu của nàng rất đẹp, vóc dáng dong dỏng như cành mai, thêm cái trong trắng như tuyết. Nhưng mà thời buổi điện tử, hiện đại, thiếu số đo cụ thể thì khó so sánh lắm. Đoạt vương miện không phải chuyện ngon xơi nhà. Ví như hoa hậu Vi Thị … Tây cao 1m7, nặng 57 ký, còn vòng 1 thì 84, vòng 2 65, vòng 3 là 88 nhé!
Hướng dẫn viên du lịch nữ (kiêm ca sĩ) cũng hăng hái:
– “Khúc nhà tay lựa nên chương
Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân”.
Xem ra sức khỏe Thúy Kiều vậy là loại yếu, tâm hồn cũng yếu cho nên mới sáng tác cho đàn tỳ bà một khúc nhạc sầu như thế. Theo mình, Kiều chỉ đạt 8 hoặc 8 phảy 5, không thể là điểm 9.
Nữ kỹ thuật viên nấu ăn cũng có vẻ đồng tình:
– Nhược điểm lớn của Thúy Kiều là chỉ lo một vế cầm kỳ, thi họa”, không chịu cất nhắc tay chân, không sốt sắng với văn hóa ẩm thực, không cuốc đất trồng hoa, cây cảnh, cây ăn quả, tham gia làm trong sạch môi trường sức khỏe đâu mà làm nghĩa vụ lao động công ích, sức khỏe đâu mà đi tham quan, du lịch? Cho nên nếu trao vương miệng thì chưa toàn diện…
Bác sĩ của khách sạn vung tay nói đầy thuyết phục:
– Thưa vâng, Thúy Kiều của Nguyễn Du và của chúng ta, tuy có đẹp, thanh lịch, nhưng không khỏe.
“Êm đềm trước rủ màn che”, cụ thể tức là ít ra ngoài trời vận động thân thể (bóng bàn, cầu lông, thể dục dụng cụ, a – ê- rô – bích…) thử hỏi làm sao có màu da khỏe khoắn? Làm sao đạt số đo lý tưởng. Đây là thi khỏe đẹp, tiêu chuẩn sức khỏe đứng hàng đầu. Vậy thì ta chỉ nên xếp con gái Vương ông là Á khôi thôi!
Tất cả hí hả, khoái trá, gật gù như máy: “Á khôi! Có lý! Có lý!”
Tôi chủ nhà, không nén được cười, cũng buột miệng; Một sự trùng hợp khá thú vị: Đại thi hào Nguyễn Du mất ngày 16 – 9 – 1820 (tức 1-8 Canh Thìn). Năm 2000 cũng năm Canh Thìn. Cuối năm Canh Thìn rồi, sắp sang năm mới Tân T, chúng ta lại nhắc đến Thúy Kiều…
Đỗ Hài – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Đưa du lịch Việt Nam phát triển

OSC Việt Nam quyết tâm góp phần đưa du lịch Việt Nam phát triển. Bước vào thế kỷ 21, Công ty Du lịch Dịch vụ dầu khí Việt Nam (OSC Việt Nam) đặt ra nhiệm vụ quan trọng là phải nắm bắt và phát huy được các thuận lợi cơ bản, đồng thời quyết tâm vượt qua các khó khăn, thách thức để có bước phát triển mới trong thiên niên kỷ mới.
Trải qua hơn 23 năm hoạt động với ưu thế về cơ sở vật chất trong kinh doanh du lịch, OSC Việt Nam đã không ngừng phát triển.
OSC Việt Nam hiện có 7 đơn vị liên doanh quốc tế, một cơ sở vật chất hoàn chỉnh; khu dịch vụ dầu khí và du lịch gồm 12 khách sạn, 36 biệt thự với gần 1.000 phòng ngủ các loại vá nhiều phương tiện thiết bị chuyên dùng cùng các kho hàng và trạm trại khác, OSC Việt Nam còn có quan hệ và hợp tác với trên 30 hãng du lịch trong khu vực và trên thế giới, phát triển du lịch nội địa và du lịch quốc tế bao gồm cả lữ hành. Trong tình hình chung về kinh doanh du lịch còn gặp nhiều khó khăn nhưng hoạt động sản xuất kinh doanh của OSC Việt Nam trong những năm qua vẫn ổn định phát triển, năm sau tăng trưởng hơn năm trước vốn được bảo toàn và phát triển các cơ sở vật chất được nâng cấp và mở rộng\. Đặc biệt trong năm 2000, với sự quan tâm và chỉ đạo kịp thời của Tổng cục Du lịch các ngành có liên quan và chính quyền địa phương\. Công ty đã đạt được những kết quả khả quan, tạo đà phát triển cho năm 2001 và các năm tiếp theo.
Bước vào thiên niên kỷ mới để khẳng định vai trò chủ lực trong kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và thực hiện tốt nhiệm vụ kinh tế – xã hội đã đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ OSC Việt Nam nhiệm kỳ VI (2000 – 2003), Công ty phấn đấu với mục tiêu “sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả, vốn được bảo toàn, phát triển, đổi mới cơ sở vật chất theo yêu cầu kinh doanh, tập trung cho hoạt động kinh doanh du lịch và dịch vụ phát triển dầu khí, đồng thời quan tâm phát triển các ngành kinh doanh tổng hợp”. OSC Việt Nam luôn xác định tầm quan trọng của việc xây dựng chiến lược kinh doanh để tiếp tục duy trì, ổn định và nâng cao hiệu quả kinh doanh đặc biệt là hiệu quả kinh doanh du lịch. Đi đôi với việc xây dựng và thực thi chiến lược tiếp thị để duy trì thị trường hiện tại và hướng đến các thị trường tiềm năng, đặc biệt là thị trường quốc tế OSC Việt Nam luôn xác định vấn đề cốt lõi là đổi mới công tác tổ chức quản lý, quản lý tốt cũng có nghĩa là thực hiện tiết kiệm các chi phí nâng cao chất lượng phục vụ, tạo lợi thế trong cạnh tranh và các lợi thế khác.
OSC Việt Nam luôn coi trọng việc tranh thủ mọi nguồn vốn như: vốn liên doanh, vốn từ hợp tác kinh doanh, vốn tín dụng và các nguồn vốn khác. Bán, khoáng cho thuê những cơ sở vật chất kinh doanh không hiệu quả để đầu tư vào các dự án có hiệu quả hơn là việc đã và tiếp tục được OSC Việt Nam thực hiện tốt chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước và từ những kinh nghiệm rút ra trong cổ phần hóa đơn vị khách sạn Pacific, năm 1999 dự kiến đến cuối năm 2003 công ty sẽ hoàn tất cổ phần hóa tiếp một đơn vị khách sạn trực thuộc và bằng các nguồn vốn huy động. OSC Việt Nam cũng sẽ tiếp tục cải tạo nâng cấp các cơ sở kinh doanh và phấn đấu những năm đầu thiên niên kỷ mới sẽ nâng cấp 1 khách sạn trở thành khách sạn đạt tiêu chuẩn 4 sao đầu tiên tại Vũng Tàu.
Được sự giúp đỡ của các cơ quant rung ương và địa phương, của tổng cục du lịch và các ban ngành đoàn thể, các bạn bè đồng nghiệp và sự tín nhiệm ủng hộ của khách hàng, với khả năng nắm bắt được những thời cơ thuận lợi và tìm cách vượt qua những thách thức khó khăn để bước vào thế kỷ 21 Cán bộ Công nhân viên OSC Việt Nam quyết tâm và nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao với hiệu quả cao nhất góp phần vào việc phát triển kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và xứng đáng là một trong những doanh nghiệp hàng đầu của ngành Du lịch Việt Nam.
Tơ hồng
Theo câu quan họ tôi tìm
Không lời hẹn, vẫn cứ lên với người
Nón quai thao gặp đầy rắc rối!
Vành trăng che nửa nụ cười trao duyên…
Tôi về đây với Hội Lim
Qua cầu muốn lội xuống tìm ca dao
Áo tứ thân chợt thoáng qua
Đã nghe thấy nhịp đạm đà trống Cơm.
Gặp người, chưa kịp làm quen
Liền anh bỗng tới kéo liền chị đi!
Sông Cầu ghen – sóng thầm thì
Mái chèo khua, dáng thuyền đi nhạt nhòa…
Trách gì con nhện thoáng qua
Tơ chăng mỏng mảnh gió lùa tơ bung!
Trống Cơm ai vỗ bập bùng,
Áo tứ thân chắc ướt đẫm như mưa?
Hội Lim có tự ngàn xưa
Về đây vẫn thấy bất ngờ – hội Lim
Vịn câu quan họ tôi tìm
Người ơi có hẹn tôi lên? Một ngày
Phạm Quang Duy – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Âm thầm chịu đựng

Chùa Vân Hồ có tên là Tào Sách tự, Linh Thông tự , tuyên truyền xây từ đời nhà Trần (1226 – 1400). Chùa có 5 gian tiền đường, 3 gian hậu cung, 9 gian nhà ngang, 3 gian nhà thờ Mẫu và khu tháp mộ. Chùa thờ Phật và Đức Uy Linh Lang, đuợc Bộ Văn hoá – Thông tin xếp hạng di tích ngày 22/4/1992, thuộc đất phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Ngay nay ai đi qua phố Lê Đại Hành theo hướng triển lám Van Hồ, nếu thật sự để ý quan sát sẽ nhận ra tam chùa ở mé tay phải trong ra phố, chếch cổng Bộ Xây Dựng, và nếu chịu khó len lỏi qua dãy ô tô đậu bít lối vào, ngước nhìn ên sẽ thấy bên phải cổng chùa gắn tấm biển đen mỗi chiều khoảng 60 cm, viết chữ nhũ, ốp kính: Di tích lịch sử chùa Vân Hồ đã xếp hạng – cấm vi phạm. Còn mé trái là tấm biển: Hà Nội 97, chùa Vân Hồ – Pagode Van Ho – Van Ho Pagoda.
Sở dĩ nói phải chú ý lắm mới tháy lối vào chùa vì đủ các loại taxi, xe tải nhỏ đậu kín vẻ hè, lòng đường, dọc tường chùa từ giáp phố Bà Triệu đến gần cuối phố Đoàn Trần Nghiệp. Vì chật nên ¼ số xe ấy phải đỗ dưới lòng đường.
Vậy là đường phố này không còn vỉa hè cho người đi bộ và lòng đường thì hẹp lại, nguyên nhân gây va chạm giữa các chủ phương tiện giao thông: Dư luận quần chúng rất bình thường, có nguời còn ngờ oan nhà chùa “cô” với địa phương để có thu nhập. Để xác minh chuyên này, chúng tôi đến chùa, được sư cụ Thích Đàm Hợp và sư thầy Thích Đàm Trang cho biết: “Khoảng năm 1996, một anh đội trưởng (quên tên) là người của Sở Giao thông Công chính Hà Nội đến nói về việc lấy vỉa hè làm điểm trong giữ xe ô tô để “đảm bảo trật tự mỹ quan thành phố”. Nhà chùa trả vỉa hè là của Nhà nước , Nhà nước dung vào việc gì thì tuỳ, nhà chùa không có quyền… Sư thầy mỉn cười, thêm: “Nhà chùa có sáng kiến bày trước tam quan 10 chậu cây cảnh (tối cất vào) là muốn nhắc nhở họ chừa cho lối đi, nhưng những ngày đông, ô tô cữ đỗ nối đuôi nhau bịt kín cửa chùa, chúng tôi cũng đành chịu.
Cũng xin nói thêm, tường chùa phía phố Bà Triệu lây nay bị chiếm làm nơi trông giữ xe đạp, xe mý và là địa điểm các chủ chó đưa chó đến nhà vệ sinh, còn phía Lê Đại HàNh thì một hộ ngang nhiên mở quán chè chén, hàng sáng lấy xe taxi ăn sáng xong ra đấy gồi uống nước cả buổi, cần thiết phải “xả” thì … úp mặt vào tường, nên chỗ ấy lúc nào cũng hôi thối nồng nặc. Nhưng chùa ngại nhất quán nước vì đó còn là nơi bọn trộm cắp thường xuyên tụ tập, theo dõi khách đi lễ chùa rồi trà trộn giở trò bất lương.. Những bực dọc lo âu ấy nhà chùa cứ âm thầm chịu đựng chẳng dám nói ra.
Chả hiểu tình trạng này bao giời thì chấm dứt.
Khách sạn Hành Hải (Hải Phòng) tự tăng hạng 4 sao?
Khách ngoại quốc đến Hải Phòng ngày một tăng. Nhiều nhất vẫn là du khách Trung Quốc. Các đơn vị du lịch ở Hỉa Phòng cố gắng hết sức mình nâng cấp khách sạn để đón được nhiều khách hơn.
Bên cạnh những khách sạn tự xoay xở tìm nguồn vốn đầu tư sữa chữa phòng nghi, trang thiết bị nội thất, sân chơi, bể bơi… để đáp ứng mọi nhu cầu của khách thì có khách sạn lại tự “phong” sao cho mình.
Cuối năm 2000, khi về công tác Hải Phòng, đến khách sạn Hnàg Hải ở 282 Đà Nẵng, Chùa Vẽ, Hải Phòng chúng tôi ngạc nhiên thấy cơ sở khuôn viên trang thiết bị hết sức bình thường mà từ đại sảnh cho đến phòng lễ tân đều gắn 4 sao vàng choé. Theo bảng Danh sách các khách sạn được xếp hạng tử tháng 7/1995 – 25/2/1999 thì khách sạn Hàng Hải đựơc Tổng cục Du lịch xếp hạng 2 sao.
Chúng tôi có điện hỏi bà Đỗ Hồng Xoan, Phó Vụ trưởng Vụ Khách sạn (Tổng cục du lịch) thì được bà cho biết ở Hải Phòng chỉ mói có khách sạn Hữu Nghị đuợc xếp hạng 4 sao.
Hiện nước ta có nhiều quốc nan: hàng giả, bằng cấp giả, học hàm giả, nay lại có nạn sao giả.
Việc xếp hạng sao là do Tổng cục du lịch Việt Nam quyết định khi căn cứ từng khách sạn. Khách sạn Hàng Hải tự phong sao “dỏm” cho mình thì không nói cũng biết nguy hại của nó đến mức nào rồi!
Mãn Đông – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 8(173)2001

Khách sạn du lịch – môi trường phát huy

Khách sạn du lịch – môi trường để phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Trong một thời gian dài, các sân khấu không mặn duyên với âm nhạc dân tộc thì các khách sạn và các đoàn ca múa nhạc dân tộc tìm đến nhau và điểm này đã giúp cho tòa nhà hiện đại của khách sạn trở nên có hồn hơn, cứ thế 2 bên cần có nhau, dựa vào nhau để tồn tại cho đến khi có nghị quyết Trung ương V soi sáng. Anh Trần Đình Sanh – Giám đốc Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh, Đà Nẵng, tâm sự. Có một giai đoạn tường không tìm được khán giả, giữa các anh chị em biểu diễn đã có lúc nổ ra tranh luận gay gắt liệu có tồn tại hay không tồn tại? Và tồn tại bằng cách nào? Từ khi đất nước mở cửa cũng nhờ các khách sạn hợp đồng biểu diễn, các hang lữ hành đến đặt hàng đã giúp cho các anh có đất diễn. Thù lao cũng cần nhưng là phụ, cái chính là diễn viên có dịp thể hiện sức sáng tạo của mình, sống với đam mơ của mình. Bây giờ thì khác rồi, Nghị quyết Trung ương V về giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, chấn hưng văn hóa đã là chỗ dựa tinh thần cho các anh. Từ nghị quyết đến cuộc sống cần có thời gian, vì vậy các khách sạn du lịch vẫn là đất diễn của các đoàn chỉ khác chăng bây giờ họ đã lấy lại niềm tin và đã luyện tập nhiều chương trình phong phú phục vụ khách, tùy mỗi địa phương, ở mỗi khách sạn có mỗi nét độc đáo riêng. Nếu bạn đến khách sạn Hương Giang – Huế chắc chắn được xem ca máu nhạc cung đình, hoặc đi thuyền dọc Hương Giang để nghe những giọng hò Huế thiết tha, trữ tình; đến Đà Nẵng tại các Khách sạn Faifo, Bamboo, Green… tối đến có chương trình biểu diễn ca múa nhạc dân tộc phục vụ trong lúc khách ăn tối. Các món ăn thuần túy Việt Nam trong một không gian hồi cổ đã đưa du khách châu u đến với nền văn hóa Phương Đông một cách nhẹ nhàng nhất. Ở các khách sạn Furama hàng chiều tại khu tiền sảnh, trong nhà hàng Indochina đều có nhạc công thổi sáo, chơi đàn bầu, đàn t’rưng. m thanh quyến rũ lạ tai của các nhạc cụ dân tộc đã làm cho khách nước ngoài từ ngạc nhiên đến thích thú. Những lần có tiệc Buffet, mặc dù món ăn phục vụ kiểu u nhưng bên ngoài bao giờ cũng bố trí một chiếc xích lô, một người phụ nữ gánh hàng; một khung cửi dệt thủ công, còn bên trong là những ngọn nến lung linh. Trong không gian ấy khách vừa ăn vừa uống vừa xem múa Chăm, nghe các ca khúc trữ tình của các ban nhạc dân tộc Hoa Quỳnh. Còn ở Hội An đêm phố cổ, điệu hòa khoan đối đáp trên sông nước, giữa một đêm trăng sáng lung linh ánh đèn lồng đưa ta về với cội nguồn. Vào phía Nam đến các khách sạn Nha Trang xem biểu diễn múa Chăm của đoàn ca múa Ninh Thuận hoặc đến Rex, Continetal Saigon. Mỗi một khách sạn đều có một chương trình giải trí bằng ca nhạc dân tộc cho du khách. Với khách nước ngoài trước tiên là phải nói sức hút lạ mắt của trang phục, sau đó là âm thanh của các nhạc cụ, của trống, của tiếng cồng Tây Nguyên không những lạ tai mà còn có sức quyến rũ mê hồn. Chính nét độc đáo riêng đó đã góp phần làm cho các giai điệu Việt Nam ngưng đọng lâu hơn trong lòng du khách. Còn đối với chúng ta thì sao? Trong khi đối với giới trẻ đam mê nhạc rốc, pop, những người lớn tuổi lại thích sự lặng lẽ có hồn của lời ca điệu hò được sáng tạo qua bao đời, nghệ thuật đích thực có truyền cảm và quan trọng là nó có tính hướng thiện, giúp người thư giãn, tránh những xô bồ của cuộc sống sôi động trong cơ chế thị trường.
Người trong kiến trúc khách sạn, trang trí nội thất, những khách sạn trở về lối xưa càng có sức hấp dẫn với khách. Nếp xưa trong kiến trúc, nếp xưa trong tràng phục, nếp xưa trong ẩn thực… tất cả điều nhằm phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Những người du lịch có quyền tự hào là một trong những ngành tiên phong đưa Nghị quyết Trung ương V vào cuộc sống.
Dương Thị Thơ – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 8(173)2001

Dự báo du lịch châu Á – Thái Bình Dương năm 2001 – 2004

Trong nửa cuối thập kỷ vừa qua, lượng khách du lịch quốc tế và doanh thu du lịch trên toàn thế giới tăng với tốc độ trung bình hàng năm tương ứng là 3,7% và 2,71%. Điều đó đã hoàn toàn thay đổi cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế châu Á vào năm 1997 với doanh thu dịch vụ quốc tế chỉ tăng 0,3% trong năm 1998. Lượng khách du lịch châu Á – Thái Bình Dương năm 1995 là 166.046 ngàn người, đến năm 1999 lên 185.814 ngàn người.
Xu hướng phát triển của du lịch toàn cầu giữa khu vực này với khu vực kia là khác nhau. Lượng khách tới khu vực PATA giảm đáng kể trong năm 1998 nhưng tăng mạnh trở lại trong năm 1999 với 4,7%. Thị phần doanh thu còn giảm nhiều hơn nữa, từ 39,2% tổng doanh thu du lịch thế giới, năm 1998 chỉ còn 36,4%. Nguyên nhân chính của việc giảm doanh thu là việc mất giá đồng tiền các nước châu Á Trong giai đoạn này. Mặc dù vậy, theo thống kê về lượng khách và doanh thu du lịch trên thế giới thì có đến 10 nước và vùng lãnh thổ châu Á nằm trong danh sách 40 nước đứng đầu về lượng khách đến, đó là: Trung Quốc, Hồng Kông, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Australia, Nhật Bản và Macao. Do các điểm du lịch khu vực châu Á – Thái Bình Dương có khoảng cách xa, thời gian khách du lịch lưu trú thường dài hơn, nên hầu hết các điểm du lịch trong khu vực này có doanh thu xếp ở vị trí cao hơn là lượng khách (ví dụ như ở Ấn Độ và Philippines đã lọt vào danh sách 40 nước đứng đầu về doanh thu du lịch).
Trong năm 1990, các điểm du lịch thu hút được nhiều khách nhất là Malaysia, Hồng Kông, Thái Lan và Hawaii do lượng khách du lịch Nhật Bản đến nhiều và chi tiêu ở mức cao. Đến năm 1998, Malaysia, Hồng Kông, Thái Lan, Singapore tiếp tục là những điểm thu hút được nhiều khách du lịch Trung Quốc, Indonesia và Australia. Trung Quốc và Australia nằm trong danh sách các nước có doanh thu du lịch cao nhất trên thế giới năm 1998, chủ yếu là khách Nhật Bản. Các nước có doanh thu lớn tiếp sau là Thái Lan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore.
Thời gian lưu trú giữa các điểm du lịch cũng như không đồng đều. Ấn Độ, Australia và Niu Di lân là những nước thu hút được khách du lịch lưu lại lâu nhất, một phần do diện tích lớn và sự đa dạng của điểm du lịch. Australia và Niu Dilan có thị trường khách đến thăm thân lớn nhất, đây cũng là một nguyên nhân để khách lưu lại lâu hơn. Ngoài ra, chi phí sinh hoạt trung bình một ngày ở hai quốc gia này cũng thấp hơn.
Về chi tiêu, khách du lịch Nhật Bản có xu hướng chi tiêu trung bình trong ngày cao nhất, sau đến Ấn Độ và Singapore vì họ có nhu cầu mua sắm rất cao. Mua sắm cũng đóng vai trò quan trọng tăng doanh thu cho Thái Lan và Hồng Kông. Các nước thu hút nhiều khách thăm thân ẽ có mức doanh thu trung bình trong ngày ít hơn vì doanh thu từ dịch vụ lưu trú bị hạn chế.
Về mục đích chuyến đi, khách du lịch kết hợp thương mại đến các điểm du lịch của khu vực này như Pakistan, Nhật Bản, Hồng Kông, Trung Quốc, Đài Loan và Indonesia chiếm khoảng trên 25% tổng lượng khách. Lượng khách du lịch kết hợp thương mại tới Australia, Niu Dilan, Malaysia và Thái Lan chiếm chưa đến 10%.
Nhìn chung, khách sạn là loại hình lưu trú chính của khách du lịch quốc tế. Khách thăm thân có chiều hướng lưu trú tại nhà dân, còn khách đi cả gia đình thì thích sử dụng dịch vụ lưu trú cho thuê lưu động và cắm trại… Đa số các điểm hiện nay đang thừa cơ sở lưu trú do việc suy giảm lượng khách vì bị ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính trong năm 1997 – 1998. Kết quả là bộ phận khách sạn chỉ thu được tỷ lệ sử dụng phòng thấp và lợi nhuận ít ỏi. Theo thống kê của Athur Anderson Hotel Industry Benchmark thì chỉ có hai trong số 15 thủ đô ở châu Á có tỷ lệ sử dụng phòng từ 80 – 90%.
Theo các nhà phân tích dự báo, trong những năm tới 2001 – 2005 lượng khách du lịch quốc tế ở một số điểm du lịch châu Á – Thái Bình Dương tăng mạnh và bền vững trong thời gian vài năm tới. Tổng lượng khách du lịch đến các nước Nam Á sẽ tăng trung bình 6,6% năm 2001 và 5,5% năm 2004 (trong đó Việt Nam là 7,8% năm 2001 và 7,0% năm 2004). Các nước Đông Bắc Á 9,8% năm 2001 và 8,0% năm 2004; Các nước châu Đại Dương đạt 7,9% và năm 2001 và 6,7% năm 2004. Mặc dù Đông Nam Á được dự báo sẽ có mức tăng trưởng doanh thu thấp hơn mức trung bình so với các khu vực khác của châu Á – Thái Bình Dương trong tương lai gần, nhưng khu vực này vẫn sẽ có tốc độ tăng tổng doanh thu trên 8% năm từ nay đến năm 2004.
Quốc Minh – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT- DL – Hà Nội – Năm 14(179)2000

Nếu Hàng không và Du lịch không hợp tác chặt chẽ… – Phần 2

Nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch – hàng không Việt Nam: Đây là vấn đề thể hiện cụ thể sự hợp tác toàn diện hàng không du lịch. Sản phẩm chung hàng không – du lịch Việt Nam sẽ mang đậm bản sắc Việt Nam, có sức cạnh tranh trên thị trường du lịch và hàng không quốc tế, đem lại hiệu quả kinh tế cho mỗi ngành, đồng thời nó cũng là một công cụ thông tin tuyên truyền hiệu quả cho hình ảnh của Việt Nam nói chung và hai ngành du lịch – hàng không nói riêng. Tuy nhiên việc giải quyết các thủ tục pháp lý cho các doanh nghiệp vận chuyển hàng không Việt Nam phối hợp với các doanh nghiệp Du lịch xây dựng, bán, tổ chức và thực hiện các sản phẩm du lịch chung vẫn chưa được hoàn thành.
Phóng viên: Xin cục trưởng cho biết sự phối hợp giữa hai ngành hàng không và du lịch nhằm giải quyết tình trạng vắng khách ở Việt Nam hiện nay?
Cục trưởng Cục hàng không dân dụng Nguyễn Tiến Sâm: Một điều đáng mừng là trị trường vận tải hành khách Việt Nam và khu vực đã phục hồi và dần thoát khỏi tình trạng của khủng hoảng kinh tế năm 1998. Trong sáu tháng đầu năm 1999 Vietnam Airlines đã vận chuyển được 1.301.042 hành khách (tăng 4,6% so với cùng kỳ năm 1998) trong số đó lượng khách trên các tuyến quốc tế là 496.039 (tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 1998), lượng khách trên các tuyến nội địa là 805.003 (tăng 2% so với cùng kỳ năm 1998). Tổng thị trường vận tải hàng không quốc tế của Việt Nam sáu tháng đầu năm 1999 tăng 7,5%, so với tốc tăng trưởng 2% của năm 1998 so với năm 1997. Điều này thể hiện sự chỉ đạo và lãnh đạo sâu sát của các cơ quan quản lý Nhà nước cụ thể của hai ngành hàng không và du lịch, nhất là trong điều kiện khủng hoảng.
Vận tải hàng không và du lịch là hai ngành dịch vụ, ngoài các yếu tố nội tại của mỗi ngành, muốn phát triển còn phải tính đến các yếu tố chung khác như tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam so với các sản phẩm tại thị trường khác trong khu vực, bao gồm sự phát triển hạ tầng du lịch cũng như các dịch vụ bổ trợ khác. Chúng tôi tin tưởng rằng, việc thực hiện thành công Chiến lược hội nhập quốc tế của mỗi ngành, một phần được thể hiện bằng kế hoạch hành động quốc gia về du lịch và Thỏa thuận liên ngành sẽ góp phần vào sự thành công của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa Việt Nam thành một trung tâm du lịch và hàng không của khu vực.
Phóng viên: Vấn đề hợp tác giữa Cục hàng không dân dụng Việt nam với các hãng hàng không nước ngoài hiện ra sao ?
Cục trưởng Cục hàng không dân dụng Nguyễn Tiến Sâm: Cục hàng không dân dụng luôn khuyến khích các doanh nghiệp vận chuyển hàng không Việt Nam mở rộng hợp tác với các hãng hàng không nước ngoài trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi. Trong tổng số 16 hãng hàng không nước ngoài hiện đang khai thác chuyến bay quốc tế thường lệ đến Việt Nam, Vietnam Airlines đã hợp tác dưới nhiều hình thức khác nhau (khai thác chung, bay liên doanh, mua chỗ, trao đổi chỗ…) với 10 hãng. Đây là một tỷ lệ không nhỏ và có hiệu quả rõ rệt, tạo điều kiện cho Vietnam Airlines dần thích nghi và hội nhập quốc tế trong môi trường cạnh tranh khốc liệt trên thị trường vận tải hàng không quốc tế. Sự hợp tác này cũng tạo điều kiện cho Vietnam Airlines hợp tác với các đơn vị ngành du lịch trong việc xây dựng sản phẩm du lịch – hàng không Việt Nam có khả năng cạnh tranh và thu hút nguồn khách du lịch quốc tế, ngay cả trong điều kiện các doanh nghiệp vận chuyển hàng không Việt Nam chưa có khả năng bay đến hầu khắp các vùng của thế giới. Tôi cũng xin khẳng định một điều nếu hàng không và du lịch không hợp tác chặt chẽ sẽ không có sản phẩm chung tốt, hấp dẫn so với các đối thủ cạnh tranh của du lịch – hàng không Việt Nam, và thực tế chúng ta sẽ chỉ là người phục vụ cho việc xây dựng các sản phẩm du lịch của nước ngoài.
Xin chân thành cảm ơn Tuần Báo Du Lịch đã dành cho chúng tôi cơ hội để trình bày những vấn đề quan trọng trên, và mong rằng bạn đọc đông đảo của Báo sẽ luôn ủng hộ và nâng niu đôi cánh du lịch – hàng không của chúng ta.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Cục trưởng !
Thanh Thanh Vân – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Nếu Hàng không và Du lịch không hợp tác chặt chẽ… – Phần 1

Phỏng vấn đồng chí Nguyễn Tiến Sâm, Cục trưởng Cục hàng không dân dụng Việt Nam, Ủy viên Ban chỉ đạo Nhà nước về du lịch.
Phóng viên: Là thành viên của Ban chỉ đạo Nhà nước về du lịch, xin đồng chí cho biết kế hoạch và các chương trình hợp tác cụ thể của ngành Hàng không trong việc thực hiện chương trình du lịch Quốc gia năm 2000.
Cục trưởng Cục hàng không dân dụng Nguyễn Tiến Sâm: Hàng không và du lịch là hai ngành kinh tế gắn bó với nhau rất mật thiết và từng được ví như hai cánh của một máy bay. Hợp tác hàng không du lịch toàn diện, đồng bộ là tất yếu để phát triển nội lực của hai ngành. Nhằm thể chế hóa và thúc đẩy hơn nữa sự hợp tác này, ngày 25/2/1999 hai ngành đã ký thỏa thuận liên ngành tăng cường hợp tác du lịch và hàng không, đưa ra nguyên tắc và các hình thức hợp tác cụ thể sao cho có hiệu quả. Nội dung cơ bản của thỏa thuận được cụ thể hóa trong Kế hoạch triển khai Chương trình quốc gia về du lịch và các sự kiện du lịch năm 2000, tập trung ở những kế hoạch đã và đang được thực hiện sau:
Về hạ tầng cơ sở và mạng đường bay: Để thực hiện chủ trương hội nhập và chiến lược biến Việt Nam, với ba cửa ngõ sân bay quốc tế thành một trong những trung tâm hàng không quốc tế của khu vực, ngành hàng không dân dụng chú trọng đầu tư cải tạo, nâng cấp, mở rộng các sân bay địa phương để có khả năng đón nhận những tàu bay lớn hơn, dự kiến trong năm 1999 hoàn thành kế hoạch sửa chữa các sân bay Hải Phòng, Pleiku, Huế, Điện Biên, Cà Mau, Phú Quốc. Ngành hàng không dân dụng cũng đã chuẩn bị và sẵn sàng mở rộng các tuyến đường bay giữa Việt Nam tới các điểm du lịch quốc tế như châu u, Bắc Á, kể cả Bắc Mỹ.
Về thông tin, quảng cáo: Trên cơ sở Thỏa thuận liên ngành, Tổng công ty hàng không Việt Nam phối hợp với Tổng cục du lịch thực hiện một số công việc cụ thể như: xây dựng Trang chủ (web site) Vietnam Tourism trên Internet; tham gia hội chợ du lịch trên ITB (Đức); hội chợ du lịch tại Pháp; đón đoàn lãnh đạo Tổng cục du lịch Trung Quốc; tham gia hội thảo, hội nghị PATA. Các đơn vị ngành hàng không dân dụng được giao nhiệm vụ chủ trì hoặc phối hợp trong Kế hoạch triển khai chương trình hành động Quốc gia về du lịch và các sự kiện du lịch năm 2000, cụ thể như: mời các nhà báo nước ngoài vào thăm và viết bài về du lịch Việt Nam; tổ chức các chuyến khảo sát giới thiệu các sản phẩm du lịch Việt Nam cho các hãng lữ hành nước ngoài từ các thị trường: Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Úc, Bắc u; giúp Tổng cục du lịch đặt văn phòng thông tin du lịch ở một số nước là thị trường du lịch trọng điểm của Việt Nam; phối hợp với các đơn vị du lịch cung cấp chất lượng sản phẩm du lịch – hàng không Việt Nam. Tới đây, chúng tôi sẽ chủ trì, có sự phối hợp với các đơn vị du lịch để tuyên truyền về du lịch Việt Nam tại Hội nghị lần thứ 35 các Cục trưởng Cục hàng không dân dụng khu vực châu Á – Thái Bình Dương được tổ chức vào tháng 9/1999 tại Hà Nội, với sự tham gia của đại diện của khoảng 43 nước thuộc khu vực và nhiều Tổ chức quốc tế.
Đơn giản hóa thủ tục thực sự là một trong những yếu tố thúc đẩy phát triển du lịch. Thông qua Ủy ban đơn giản hóa thủ tục vận chuyển hàng không quốc tế, Cục hàng không dân dụng đã tích cực phối hợp với Cục lãnh sự – Bộ Ngoại giao, Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh, Hải quan để giải quyết những vấn đề cụ thể nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các hãng hàng không cũng như sự đi lại của hành khách. Xét đề nghị của Ủy ban, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 448/QĐ-TTg ngày 24/4/1999 bổ sung đại diện Tổng cục du lịch làm thành viên của Ủy ban. Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ xây dựng xong Chương trình Quốc gia về Đơn giản hóa thủ tục trong vận chuyển hàng không quốc tế trình Chính phủ thông qua để tổ chức thực hiện, đồng thời tiếp tục thực hiện những thỏa thuận đã đạt được giữa các cơ quan trong khuôn khổ Ủy ban cũng như giải quyết những vấn đề mới phát sinh, tạo sự thông thoáng cho du lịch.
Thanh Thanh Vân – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Với cách đặt tên độc đáo

Minh Mạng với cách đặt tên độc đáo, nhắc tới nhà Nguyễn – vương triều phong kiến cuối cùng của Việt Nam, người ta hay nói tới những biến cố chính trị trong suốt thời gian tồn tại, kinh thành Huế và lăng tẩm đến đài Miếu mạo bên dòng Hương Giang thơ mộng. Nhưng xét khía cạnh văn hóa nổi lên Minh Mạng – một ông vua thông minh, hiếu học, năng động, quyết đoán và ham hiểu biết nhất. Từ khi lên ngôi đến khi mất (1920 – 1940), ông đề ra nhiều chính sách phát triển kinh tế, đào tạo nhân tài, canh tân đất nước, Minh Mạng còn được nhắc đến bởi phép đặt tên có một không hai của ông đối với các hoàng tử con cháu trong hoàng tộc.
Là người tinh thông nho giáo, sung đạo Khổng – Mạnh, Minh Mạng dựa vào nguyên tắc chính danh định phân, đề ra cách đặt tên ghép, diễn bằng Thơ nôm gồm 11 bài trong đó 1 bài “ Đế hệ thi (bài thơ làm vua) có 20 chữ: Miên (phúc dài); Hồng (đẹp); Ưng (hùng mạnh); Bửu (giàu sang); Vinh (công danh sáng lạn); Bảo (khí dũng); Quý (phú quý); Định (quyết đoán); Long (phúc rồng); Trường (vĩnh cửu); Hiền (tài giỏi); Năng (làm việc khuôn phép); Kham (giỏi việc); Kế (nhiều mưu); Thuật (nghe dân); Thế (gia tộc vinh hiền); Thoại (quý báo); Quốc (lấy dân làm gốc); Gia (hoàng tộc huy hoàng); Xương (thiên hạ thái bình).
Toàn bộ bài thơ “Đế hệ thi” là những câu chữ ý nghĩa uyên thâm sâu xa, tốt đẹp. Theo cách này, tất cả con trai của Minh Mạng sẽ bắt đầu lên đế hệ Miên cộng với tên chữ do gia đình đặt con của Miên sẽ có tên là Hồng rồi Ưng … cho đến Xương.
10 bài “Phiên hệ thi” cũng theo quy tắc trên gồm 20 câu bắt đầu tư Tịnh, Hoài, Chiêm, Viên, Ái, Cảnh, Ngưỡng, Mẫu cho đến Thanh, Kha, Nghiễm, Khác, Do, Trung, Đạt, Liên,Trung, Tập, Cát, Đa.
Mục đích giáo huấn của 11 bài này là qui định dòng đế hệ làm vua, dòng phiên hệ có trách nhiệm làm phên dậu bảo vệ đế hệ. Khi ban ra, Minh Mạng nói: “Nhà Chu xưa bói 30 đời làm vua 700 năm; nay dòng Nguyễn Phúc được trời cao soi xét cho hưởng 20 đời làm vua 500 năm chẳng dám mong nhiều. “Từ đó trở đi, các ông vua theo đế hệ có tên: Miên Tông – Thiệu Trị; Hồng; Nhậm – Tự Đức; Hồng Dật – Hiệp Hòa; Ưng Chân – Dục Đức; Ưng Đăng – Kiến Phúc; Ưng Lịch – Hàm Nghi; Ưng Đường – Đồng Khánh; Bửu Lân – Thành Thái; Vĩnh San – Duy Tân; Bửu Đảo – Khải Định; Vĩnh Thuy – Bảo Đại. Như vậy là trong khoảng hơn 100 năm tồn tại, có được 11 người làm vua theo đế hệ đến chữ thứ 5 – Vĩnh tức Vĩnh Thuy Bảo Đại – ông vua cuối cùng bị cách mạng năm 1945 lất đổ.
Những bài thơ “Đế hệ thi” và “Phiên hệ thi” được đặt ra để tranh chấp ngôi vị trong nội bộ hoàng tộc nhà Nguyễn. Theo cách đó, nó đảm bảo đế nghiệp lâu dài cho dòng họ, nhất là khi diễn Nôm nên dễ học, dễ thuộc. Vì vậy, nhắc tới Minh Mạng, chúng ta hẳn sẽ nhớ cách đặt tên ghép đôi đọc đáo “Vô tiền khoản hậu” của ông.
Nguyễn Văn Hoàn – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Hưng Yên “Nhà nông đối mặt với giống nhãn giả”

Nếu như ở Thanh Hà (Hải Dương) và Lục Ngạn (Bắc Giang), cây vải đã tạo những “cú huých” cho đời sống nhà nông đầy ngoạn mục thì tại Hưng Yên, cây nhãn truyền thống cũng đâu có kém cạnh. Năm 1999 này, sản lượng nhãn toàn tỉnh ước khoảng 15 ngàn tấn, tổng thu cũng cỡ 100 tỷ đồng. Người trồng nhãn giàu lên vì nhãn chẳng còn hiếm hoi nữa. Giờ đây ở Hưng Yên, tất cả những gì liên quan đến nhãn đều trở nên đắt đỏ. Từ đất trồng nhãn, cành nhãn, mắt nhãn, giống nhãn v…v… đều được bán với giá kha khá.
Nhưng sự thật hiển nhiên này đã làm nảy sinh nhiều mặt trái xoay quanh cây nhãn. Ngoài việc nông dân lấn đất ruộng trồng nhãn, thời gian gần đây nổi cộm lên việc ở Hưng Yên xuất hiện lan tràn giống nhãn giả. Cây giống không được chiết hoặc ghép từ cây mẹ sức sống tốt, quả chất lượng cao. Cành chiết hoặc mắt ghép của giống quả đều lấy từ cây thường nên cho quả chất lượng thấp. Nguyên nhân xuất phát từ nhu cầu giống tốt quá lớn không đáp ứng đủ nên nhiều cơ sở ươm giống, hộ nông dân vô đạo đức cứ làm bừa giống giả rồi đem bán. Đã có rất nhiều người trong, ngoài tỉnh mua phải loại giống nhãn giả này. Giống giả nên chất lượng quả thấp và kéo theo là giá bán nhãn tụt xuống. Nhãn loại tốt giá 30.000 đồng/kg còn loại này chỉ 20.000 đồng/kg hoặc nhỉnh hơn một chút. Tất nhiên người bán giống giả bao giờ cũng có lãi bởi giống tốt giá từ 10.000 đồng – 15.000 đồng/cây còn giống giả chỉ 7.000 đồng – 8.000 đồng/cây. Hiện tượng cây nhãn giống giả tràn lan khiến nhiều người có nhu cầu cần mua nhưng thật giả lẫn lộn, chẳng biết đâu mà lần. Một số cơ sở, cá nhân có uy tín thì không đủ giống tốt cung cấp cho thị trường. Nhiều nơi làm giống giả còn đề nghị những cơ sở uy tín “liên doanh” bán giùm giống “đểu” rồi chia lợi nhuận. Cũng may không ai dám chấp nhận “lời đề nghị khiếm nhã” này. Thực ra lãnh đạo tỉnh Hưng Yên không phải không biết điều này. Biện pháp khắc phục tình trạng này là một dự án thành lập vườn ươm giống nhãn do tỉnh làm chủ đầu tư. Mục đích thì tốt nhưng hiềm một nỗi số vốn đầu tư nặng quá, chịu không nổi. Riêng năm đầu phải rót vào gần 1 tỷ đồng, hai năm sau mỗi năm khoảng 600 triệu đồng nữa. Và thế là, dự án này cho đến giờ vẫn chỉ là ý tưởng. Còn ngoài thị trường giống nhãn giả vẫn được bán vô tội vạ.
Hưng Yên đã nổi tiếng vì cây nhãn. Nhưng, để đảm bảo cho danh tiếng đó đứng vững được thì còn rất nhiều việc phải làm. Trước, cần thiết nhất là phải loại bỏ giống giả đang tràn lan hiện nay.
Hướng tới Hội chợ IT & CMA ‘99
Năm nay, một trong những tập đoàn tổ chức Hội chợ Du lịch và truyền thông báo chí chuyên ngành du lịch Quốc tế lớn nhất của Miller Freeman sẽ tổ chức Hội chợ khen thưởng và Hội nghị Hội thảo Du lịch (IT & CMA ‘99) lần thứ 7, từ ngày 26 – 28/10/1999, tại Kuala Lumpur, thủ đô Malaysia. Dự kiến sẽ có tới 300 đơn vị của 30 nước trong khu vực tham gia triển lãm sản phẩm.
Cũng như những Hội chợ Du lịch khen thưởng quy mô lớn trước đây ở Chicago – Mỹ (MICE), ở Thụy Sĩ (EIBTM), IT & CMA là một Hội chợ Du lịch khen thưởng lớn nhất Á Châu, và chỉ có tổ chức một năm một lần mà thôi. Các lợi ích do Hội chợ IT & CMA mang đến:
1 -Tập trung các thị trường ở châu Á
2 -Việc bán tour triển vọng sẽ có số khách hàng rất đông, bởi phần lớn họ đi theo đoàn từ con số chục đến con số trăm
3 -Những tour bán được ở IT & CMA không chỉ đem lại quyền lợi cho ngành dịch vụ khách sạn, cho tham quan, mà còn có ý nghĩa giải trí
4 -Không chỉ dành riêng cho các công ty lữ hành, mà trực tiếp các Công ty thương mại lớn cũng tham gia, sẽ rất có lợi cho người tiếp thị
5 -Phía khách hàng Việt Nam, không chỉ giới hạn ở lĩnh vực lữ hành mà còn bao gồm một số lĩnh vực khác nữa như khách sạn, đoàn xe, thủ công mỹ nghệ, giải trí….
6 -IT & CMA sẽ được tổ chức tại một khách sạn 6 sao ở thủ đô Kuala Lumpur (Malaysia)
7 -Thông thường thì Hội chợ là sự gặp mặt tại chỗ giữa các đối tác không hẹn trước. Nhưng lần này IT & CMA sẽ sắp xếp cho các đối tác về những cuộc hẹn có chuẩn bị để đảm bảo cho cuộc gặp gỡ “ăn khớp” và hoàn hảo..
Với trình độ nghiệp vụ du lịch và cơ sở hạ tầng….được nâng lên ở nước ta, đây là một cơ hội rất tốt để Việt Nam tham gia và tìm thấy nhiều kinh nghiệm tốt ở tổ chức Hội chợ chuyên nghiệp này với những khách hàng có trình độ cao và có số lượng khách lớn.
M.L.H – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Dự án Cầu Bãi Cháy “nhìn từ góc độ thẩm mỹ và du lịch”

Công trình văn hóa trên nền di sản văn hóa thế giới
Dẫu rằng dự án Cầu Bãi Cháy đang trong giai đoạn chuẩn bị khởi công, nhưng đã thu hút sự quan tâm của nhiều người trong nước và ngoài nước. Đến nay dự án đã qua bước nghiên cứu tiền khả thi. Đã có báo cáo nghiên cứu khả thi đến Hội đồng thẩm định cấp Nhà nước và nhiều Hội nghị chuyên đề nhằm tìm thêm giải pháp tối ưu. Ngay từ Hội nghị thẩm định Nhà nước và các dự án đầu tư tổ chức tháng 6/1998 đã có ý kiến đề nghị đổi tên thành Cầu Hạ Long nhưng chưa được chấp thuận.
Cầu Bãi Cháy trong tương lai sẽ bắc qua Cửa Lục, nằm khoảng giữa của Quốc lộ 18A, tính từ Nội Bài đến Bắc Luận. Cầu được nối liền hai mỏm đồi Bãi Cháy và Hòn Gai thay cho việc chạy phà. Công trình này trong tương lai sẽ là một phần chủ yếu của quy hoạch tổng thể thành phố Hạ Long và tỉnh Quảng Ninh trong vùng tam giác kinh tế phía Bắc.
Phạm vi của dự án gồm phần đường và cầu. Điểm đầu của đường vào cầu phía Bãi Cháy là ngã ba vào cảng Cái Lân. Tổng chiều dài đường vào cầu khoảng 5.500m và cầu chính dài 800m. Nhìn từ góc độ thẩm mỹ, dự án Cầu Bãi Cháy có 5 điểm nhìn chủ yếu: điểm nhìn từ Vịnh Hạ Long của dân cư và khách du lịch lớn và mang tính chuyển động. Các điểm của dân cư thành phố với số lượng lớn và mang tính thường xuyên, ấy là chưa kể đến các điểm nhìn của người sử dụng, người đi bộ gọi chung là nhìn từ bên trong trên đường và cầu. Rồi đến các điểm nhìn từ phía tây – nam đảo Sa Tô….v.v. Chả bao lâu nữa chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng một cây cầu dây văng bê tổng dự ứng lực hiện đại ở nước ta với các đặc trưng: kết cấu đơn giản và rõ ràng, tháp đơn và một mặt phẳng dây cáp kiểu bán hướng tâm. Dầm, tháp và trụ được nối cứng bỏ qua gối và khe biến dạng. Sáu nhịp liên tục, dầm một hộp với thanh giằng thép trong đó có một nhịp chính thông thuyền 435m cho tàu hàng 40.000 DW và tàu công ten nơ 70.000 DWJ ra vào cảng Cái Lân an toàn thuận tiện.
Bà Takenouchi, chuyên gia của Viện cầu và kết cấu Nhật Bản nói trong Hội nghị chuyên đề kỹ thuật giới thiệu công nghệ thi công cầu và xây dựng Cầu Bãi Cháy tổ chức tại Hà Nội ngày 24/7 vừa qua: “Bởi nó còn là một công trình văn hóa trên nền một di sản văn hóa thế giới”.
Tạo thêm đường nét và sắc màu
Có lẽ cũng vì tầm quan trọng của một công trình trên cảnh quan di sản văn hóa thế giới nên ngay từ khâu thiết kế, các chuyên gia đã phải tính đến thẩm mỹ của từng chi tiết trên nguyên tắc: hình dáng, kết cấu với tỷ lệ cân bằng, cân đối. Hình dáng sắc nét, đều đặn thanh mảnh. Tính thẩm mỹ của công trình còn dựa trên nguyên tắc hài hòa giữa hình dáng và màu sắc với cảnh quan nhạy cảm của khu vực Hạ Long – một điểm du lịch. Nhìn vào mô hình Cầu Bãi Cháy trong tương lai ta thấy ngay độ tương quan quả là sang trọng, tác động lên 5 giác quan một cách vừa phải, hoàn thiện.
Xin dẫn ra đây motip thiết kế và phát triển hình dạng cột và tháp. Nhiều chuyên gia đã nghiêng về phương án 2 trên cơ sở bát giác bổ sung thêm các mặt cung lõm, nhấn mạnh các trục đứng, khí động và các hình ảnh dịu trên nguyên tắc đơn giản thanh mảnh và sang trọng và làm dịu ánh sáng hắt từ bê tông.
Ở chủ đề màu của công trình cũng được các nhà thiết kế quan tâm để màu sắc hài hòa giữa các cấu kiện kết cấu với nhau và giữa kết cấu cảnh quan như: bê tông và màu tương phản với màu cửa nó đó là màu được bổ sung, tạo điểm nhấn gây ấn tượng.
Trong chủ đề màu, các nhà thiết kế cũng đã tính đến độ chiếu sáng ban đêm để tăng độ hấp dẫn đối với khách tham quan dân cư cũng như người sử dụng theo một chương trình chiếu sáng ngày thường, ngày nghỉ, cuối tuần, lễ, kỷ niệm và các sự kiện trọng đại của địa phương, đất nước.
Nếu như ban ngày dưới anh nắng mặt trời doi vào quần thể công trình Cầu Bãi Cháy được đặt từ tây sang đông tại khoảng vĩ độ 20o bắc, khi mặt trời lên cao tại hạ chí tuyến thì nhìn từ phía Bãi Cháy sẽ thấy sự tương phản nổi bật giữa ánh sáng và bóng hình dáng công trình hiện lên rõ ràng giữa nền trời xanh và lòng Cửa Lục xanh.
Đêm ư ? Với hệ thống đèn đường trong chức năng đảm bảo an toàn giao thông cho cả xe cơ giới và người đi bộ còn có một hệ thống đèn trang trí đủ màu sắc được bật những giờ cố định – Ấy là chưa kể đến các đèn tín hiệu cho tàu và máy bay. Tất cả nhằm tăng độ hấp dẫn đối với khách tham quan được thưởng thức một gam màu say lòng đến nghiện ngập mà phải tìm đến Hạ Long.
Quang Liêm – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999