Về vụ mua bán trẻ em ở Ninh Bình “những điều còn chưa biết” – Phần 2

Trong đơn tố giác những việc làm sai trái của ông Luật, nguyên thiếu tá công an, anh Nguyễn Hữu Hoàng viết: “Có người đến chơi nhà ông Luật về nói: “Giám đốc Tư pháp ăn chơi khác kiểu !”. Có người ví như “địa chủ”, trẻ con gần nhà ông Luật thì bảo: “Làm Giám đốc Sở Tư pháp sướng dã man”…. Vì vậy có thông tin hiện nay ông Luật vẫn còn cỡ 2 tỷ đang được gửi ở các ngân hàng. Riêng dân quê ông Luật mỗi khi có ai hỏi thăm ông ta thì bảo: “Gọi ông ta là Phạm Pháp Luật thì đúng hơn !”.
Người thứ ba tham gia vào đường dây mua bán trẻ con cũng giàu rất nhanh là ông Minh, chuyên viên phòng nội chính của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình. Vợ là giáo viên, nuôi 2 con. Bản thân ông Minh vốn là cán bộ cấp huyện, lúc tách tỉnh được cất nhắc lên tỉnh làm nghề chỉ chuyên trình các giấy tờ để các đồng chí lãnh đạo ký và hưởng lương theo khung bậc của Nhà nước. Vậy mà chỉ hơn một năm tham gia vào đường dây mua bán trẻ con, năm 1996, ông Minh đã xây nhà 3 tầng, to nhất khu phố mới.
….Từ những biểu hiện kinh tế giàu nhanh bất minh của một số cán bộ trong và ngoài Sở Tư pháp Ninh Bình như vậy đã khiến ông Trịnh Kim Trừ (nguyên Chánh thanh tra tỉnh Ninh Bình) đặt câu hỏi và bỏ công sức đi tìm hiểu. Sau khi phát hiện ra “Trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi Tam Điệp” và một số trung tâm, nhà tư khác chuyên thu gom, nuôi trẻ mồ côi, ”Trung tâm thu gom trẻ mồ côi ở phường Phúc Thành”, ông Trịnh Kim Trừ đã làm đơn tố giác ngay. Vì vậy, vụ án này được đem ra khởi tố ngày 28/11/1998, nhưng nó lại được giữ kín, xử mang tính chất nội bộ, một số các cơ quan thông tin đại chúng ở Trung ương khi nghe tin về cũng không được cung cấp tài liệu.
Anh Phạm Minh Ái, trong đơn giải trình những hành vi mà ông Luật vu gán ghép cho mình, ở phần cuối đơn, anh đã thống thiết viết: “Với tư cách là Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, một chấp hành viên, tôi tha thiết đề nghị các cơ quan bảo vệ pháp luật cần kiểm tra làm rõ tất cả để kết luận chính xác, có hình thức xử lý (ông Luật) thích đáng để cứu lấy ngành Tư pháp Ninh Bình !”.
Khi chúng tôi đang ngồi viết bài phóng sự điều tra này thì anh Phạm Minh Ái từ Ninh Bình vội ra cho biết: “Các cơ quan pháp luật đã ra quyết định thu hồi được hơn 100 triệu số tiền kiếm được từ “vụ mua bán gần 371 trẻ em ở Ninh Bình mà được sự chỉ đạo của ông Luật, ông Mạnh đã đem chia cho một số người trong Sở Tư pháp”.
Điều đáng nói cuối cùng trong vụ buôn bán trẻ em, làm hồ sơ giả để trục lợi cá nhân của ông Luật, ông Mạnh và tay chân kể từ ngày tổ chức bàn giao trẻ em cho những người nước ngoài, những ông này không hề nắm được thông tin về mấy trăm đứa trẻ bị bán đó, không biết chúng khỏe mạnh hay ốm đau, hay đã chết. Nhiều người đang đặt câu hỏi: “Nhỡ những đứa trẻ này được xin nuôi để sau này họ mổ lấy phủ tạng bán thì sao ?”
Giang Thạch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Về vụ mua bán trẻ em ở Ninh Bình “những điều còn chưa biết” – Phần 1

Khi chúng tôi đến phường Phúc Thành (nằm trên đường 2, phố Trần Quốc Toản), thì được biết ở đây cũng có một trung tâm nhánh thu mua gom trẻ em để cung cấp cho trung tâm mẹ ở Tam Điệp. Một số dân ở phường Phúc Thành cho hay: Chủ Trung tâm này là ông Nam (họ không biết ông họ gì) cỡ 40 tuổi, từng là bảo vệ khách sạn Hoa Lư. Còn vợ tên là Hoa, cũng từng làm nhân viên ở khách sạn Hoa Lư. Song do muốn làm giàu nhanh hơn nên cả hai đã bỏ khách sạn để về thành lập cái trung tâm thu gom trẻ sơ sinh vô nhân đạo này. Một hàng xóm của vợ chồng Nam – Hoa làm nghề mổ lợn bán nói: “Họ – tức là Nam và Hoa – thường ra phản thịt của tôi mua các loại xương nói dối là hầm cháo cho chó ăn. Chỉ sau Nam – Hoa bị công an bắt lấy cung thì dân phường Phúc Thành và tôi mới rõ sự thật về “đàn chó”….Người hàng xóm thứ hai: “Tôi thấy còn có cả tin Nam – Hoa còn nuôi cả những cô gái, những đàn bà có chửa song lại muốn phá thai. Toàn bộ những bà mẹ này, Nam – Hoa bắt ở trong phòng kín, ban đêm cũng không được thò mặt ra ngoài, chuyện ăn uống, đại tiểu tiện đã có người khác phục vụ chu đáo cho đến bao giờ họ đẻ xong mới thôi !”.
Ngoài vợ chồng Nam – Hoa thì trong thời gian chúng tôi ở Ninh Bình để thu thập thông tin và ghi chép tài liệu, công an tỉnh Ninh Bình đã bắt giam 9 trong tổng số 21 người có liên quan, được biết sắp tới sẽ bắt tiếp 2 người nữa. Người đầu tiên bị bắt gây được chú ý của đông đảo nhân dân là ông Vũ Tiến Mạnh, trưởng phòng quản lý hộ tịch tư pháp của Sở Tư pháp. Lúc khám nhà ông Mạnh cơ quan điều tra đã thu được một quyển sổ như dạng nhật ký đã ghi chép hơn 100 trường hợp về số tiền mua bán trẻ em của cấp trên đã giải quyết xong cho Sở Tư pháp.
Quần chúng ở xung quanh nhà ông Vũ Tiến Mạnh bảo: “Năm 1994, vợ chồng ông Mạnh còn rất nghèo, ngay cả rau muống cũng không có mà ăn, nhà thì ở tạm bợ, ông Mạnh đi làm bằng chiếc xe ghẻ. Thế mà từ khi tham gia vào vụ “mua bán gần 371 trẻ em”, được ông Luật giao cho trọng trách (để sau này giơ đầu chịu báng thay), ông Mạnh đã giàu nhanh vùn vụt. Đầu tiên là mua một ngôi nhà trị giá 400 triệu (đã bị kê biên). Tiếp đến là mua xe máy, cứ mỗi năm thay đổi một kiểu xe, tới lúc bị bắt, ông Mạnh đã thay đổi xe 5 lần. Cũng trong thời gian mua và thay đổi xe máy dễ như người ta thay áo đó, ông Mạnh còn mua một xe ô tô con bốn chỗ ngồi loại xịn, đồng thời năm 1998 lại cũng đã xây nhà cho bố mẹ đẻ trị giá khoảng 200 triệu. Vì vậy, gia sản ông Vũ Tiến Mạnh kiếm chác được từ vụ mua bán trẻ em nhiều người đoán phải cỡ tiền tỷ.
Tương tự, ông Nguyễn Phúc Luật, giám đốc Sở Tư pháp Ninh Bình, năm 1993, từ chánh án huyện Gia Viễn khi lên Sở Tư pháp mới chỉ đang có một nhà nhỏ trị giá 50 triệu, vợ thì nghỉ hưu, bốn con ăn theo. Năm 1995 (lúc này đã quyền Giám đốc) ông Luật xây nhà mới còn phải vay ngân hàng 60 triệu, vay quỹ thi hành án của Sở Tư pháp 30 triệu. Chính anh Nguyễn Hữu Hoàng và anh Phạm Mạnh Ái hồi đó đã phải chạy ngược chạy xuôi đến long tóc gáy để lo giúp cho ông Luật từng xe cát. Vậy mà giờ đây nhà cửa của ông Luật giống như “cung đình”. Có người đã gặp vợ con ông Luật đem hơn 10.000 USD ra Ngân hàng công thương gửi luôn một lúc.
Giang Thạch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Ác quỷ giết 4 người hiệu vàng Kim Sinh đã bị bắt

Sau bốn ngày kiên cường, mưu trí, sáng tạo, công an Thủ đô đã lập công xuất sắc: bắt tên ác quỷ giết bốn mạng người hiệu vàng Kim Sinh (Số 48 Tây Sơn – Hà Nội). Ác quỷ có tên Nguyễn Văn Châu hoặc Nguyễn Minh Châu, sinh năm 1960 tại Vụ Bản, Nam Định, hiện đang sống tại thị trấn Chiêm Hóa, Tuyên Quang. Có một vợ và hai con. Vốn là chỗ quen biết do buôn bán vàng cốm với gia đình ông bà Kim Sinh, từ lâu tên Châu đã rắp tâm cướp tài sản của gia đình này. Ngày 18/7/1999 tên Châu từ Chiêm Hóa xuống Hà Nội đến ngay chợ Hôm mua một con dao dài Thái Lan rồi xuống phố Tây Sơn. Thấy vẫn còn sớm, tên Châu tạt vào bệnh viện Đống Đa chơi, cho đến chập tối thì đến hiệu vàng Kim Sinh. Hắn nói thác là xuống đón bà cô ở Nam Định lên Tuyên Quang chơi, nhờ ông bà Kim Sinh cho nghỉ nhờ. Vốn là chỗ quen biết, ông bà Kim Sinh và hai anh con trai đồng ý ngay. Ông bà Sinh xếp tên Châu ngủ chung giường với anh Phạm Công Thức.
Khoảng 3 giờ sáng ngày 19/7, tên Châu trở dậy thực thi tội ác. Đầu tiên hắn giết anh Phạm Công Thức, rồi anh Phạm Ngọc Tảo. Nghe thấy động và tiếng kêu ú ớ, ông bà Sinh ở nhà ngoài vào, Châu liền giết ngay. Sau đó hắn vào toalét tắm giặt, mặc quần áo, lấy hết tư trang vàng bạc ở quầy hàng rồi chuồn thẳng về Nam Định, chỗ bà cô.
Ác giả ác báo. Suốt 3 ngày tên Châu không thể yên ổn thân xác lẫn tương tri. Biết tin vợ từ Chiêm Hóa điện báo xuống chỗ bà cô ở Nam Định rằng công an đã đến khám nhà, hắn vòng lên Duy Tiên định đi trốn thì bị các chiến sĩ công an Thủ đô do trung tá Nguyễn Đức Bình, trưởng phòng Cảnh sát hình sự Công an Hà Nội chỉ huy tóm gọn.
Thân hình nhỏ thó, mặt lì lợm, nhâng nháo, trước cuộc thẩm vấn đầu tiên của các chiến sĩ công an tên ác quỷ vẫn tỏ vẻ bình tĩnh, rít thuốc lá liên tục.
Rõ ràng tên Châu đã hết tính người. Hắn đã chuẩn bị cho việc hạ sát bốn người quen biết từng giúp đỡ hắn từ lâu và không hề chùn tay trước hành động đầy dã man, tàn bạo.
Thiết nghĩ, ngành hành pháp nên dành cho hắn bản án tử hình sớm, không cần xét xử.
Ngành thương mại – du lịch Hội An làm tốt công tác đền ơn đáp nghĩa.
Bên cạnh việc đẩy mạnh hoạt động quản lý kinh doanh thương mại – du lịch trên địa bàn, ngành thương mại – du lịch Hội An (Quảng Nam) còn quan tâm đến công tác đền ơn đáp nghĩa. Ngành đã vận động cán bộ công nhân viên đóng góp tiền, công chăm sóc các gia đình chính sách. Công ty Nhà Bè Xim tour Thành phố Hồ Chí Minh có chi nhánh tại Hội An, thông qua ngành đã xây dựng một nhà tình nghĩa tặng mẹ liệt sĩ Bùi Thị Tát ở xã Cẩm Hà với kinh phí 18 triệu đồng (trong đó gia đình đóng góp 3 triệu). Hướng đến ngày thương binh – liệt sĩ 27/7 năm nay, Câu lạc bộ giám đốc các doanh nghiệp du lịch Hội An cũng đã đóng góp trên 15 triệu đồng xây dựng một nhà tình nghĩa tặng mẹ Lê Thị Đây – mẹ của 2 liệt sĩ và 1 thương binh nặng ở thôn 2, xã Cẩm Thanh (thị xã Hội An).
Công đoàn Công ty du lịch Tây Ninh xây dựng phong trào vững mạnh toàn diện
Là một doanh nghiệp có lĩnh vực hoạt động rộng và đa dạng, những năm gần đây Công ty du lịch Tây Ninh được Tổng cục Du lịch là lãnh đạo địa phương đánh giá là doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, từng bước phát triển vững chắc đúng hướng. Năm 1998, Công ty được Tổng cục Du lịch tặng cờ “Đơn vị xuất sắc trong phong trào thi đua” và tặng bằng khen cho 2 đơn vị cơ sở.
Đạt được kết quả ấy, trước hết là có sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên của tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, sự giúp đỡ của Tổng cục du lịch cùng các cơ quan, Ban, ngành từ Trung ương đến địa phương. Bên cạnh đó, Đảng ủy, Ban Giám đốc Công ty đã đề ra phương hướng và biện pháp cụ thể, phù hợp từng thời điểm để đẩy mạnh các mặt hoạt động kinh doanh có hiệu quả, thường xuyên củng cố xây dựng tổ chức cơ sở Đảng thực sự vững mạnh, chú trọng công tác đoàn thể, trong đó tích cực đẩy mạnh hoạt động của tổ chức Công đoàn trong doanh nghiệp.
Căn cứ vào Nghị quyết của Đảng ủy và kế hoạch hoạt động của Ban Giám đốc Công ty, Ban chấp hành Công đoàn cơ sở đã thường xuyên phát động phong trào thi đua nhân dịp các ngày lễ lớn và những sự kiện lịch sử. Qua mỗi đợt thi đua – Ban chấp hành Công đoàn đều có sơ kết, rút kinh nghiệm uốn nắn những lệch lạc và khen thưởng cho các tập thể, các cá nhân đạt thành tích xuất sắc.
P.V – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Phòng tranh gặp gỡ

Ghé vào thăm 16 Ngô Quyền, Hà Nội, người xem dễ dàng đồng cảm với cuộc hội tụ bạn bè đồng nghiệp của các họa sĩ khóa 17 trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội.
Họ có 17 người, 17 gương mặt, 17 phong cách. Dù ở Quảng Nam, Đà Nẵng, Thái Bình, Hà Tây hay Hà Nội… Dù ở cương vị công tác nào, họ đều say mê vẽ và đạt được những kết quả tốt trong những triển lãm tranh quốc gia và quốc tế.
Tại cuộc triển lãm mang tính chất “họp lớp” này, phòng tranh của họ không có nhiều tranh nhưng lại rất hấp dẫn người xem. Với chất liệu sơn dầu và nhưng gam màu mạnh, bức tranh Lời hẹn của Ngân Chài đã cho thấy tình yêu của đôi trai gái rất nồng nàn và mạnh mẽ đã bùng lên như ngọn lửa trước lúc họ xa nhau. Qua bức tranh Tuổi thơ bằng bột màu với những đường nét nhẹ nhàng, Nguyễn Mạnh Tài đã khắc họa được cảnh làng quê bình yên và những trò chơi ngây ngô đáng yêu của các em bé ở nông thôn. Nguyễn Hà Bắc cho thấy thế mạnh của anh trong vẽ chân dung với bức tranh Em Vân rất sống động. Vũ Thạch Phước là một tác giả giàu chất liên tưởng. Cá, đất, nón trắng, hình tượng, trống đồng… trong bức tranh Văn minh lúa nước đều rất Việt Nam và đều là những chi tiết rất Việt Nam và đều là những chi tiết đất phục vụ tối đa cho ý tưởng của anh. Xem phòng tranh này, người xem còn được đến với hình ảnh mùa Hoa gạo, những Cửa thiền ở Hà Nội, các thiếu nữ người dân tộc bên nhưng vạt rừng lau trắng, mùa lũ ở phố cổ Hội An, biển Hạ Long, cảnh làng quê nông nhàn hay môi trường sinh thái đang được báo động…
Mỗi họa sĩ một vẻ, mỗi người mỗi nơi, nhưng trong dịp hội tụ tháng 8 này họ cũng đã sát cánh bên nhau trên con đường nghệ thuật, giống như ngày n2o sát cánh trên ghế nhà trường: khóa 17 Đại học Mỹ thuật Hà Nội.
Phương Đình
2.Trung tâm du lịch thanh niên Việt Nam
Khách sạn khăn quàng đỏ
Địa chỉ: Đường 189 Hoàng Hoa Thám – Hà Nội
Điện thoại: 8232401 – 8457112
Khu vui chơi văn hóa thể thao Khăn Quàng Đỏ trực thuộc trung tâm du lịch Thanh niên Việt Nam, được đưa vào sử dụng từ 1-5-1999. Đây là một địa chỉ mới, nơi rèn luyện và đào tạo toàn diện về Văn Thể Mỹ cho các bạn trẻ trong cả nước (tin học, tiếng Anh, Thể dục thẩm mỹ)
Hân hạnh được đón tiếp các bạn
Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Những bước tiến của du lịch Trung Quốc

Theo thống kê, số du khách nước ngoài đến Trung Quốc năm 1986 vào khoảng 21 triệu người thì đến năm 1988 đã tăng lên 31,7 triệu người, trung bình mỗi năm tăng trên 20%. Bước vào những năm 1990, số lượng này càng tăng mạnh: 1991: 33,35 triệu; 1992: 38,11 triệu trong đó du khách nước ngoài trên 4 triệu, Hoa kiều ở các nước: 1,65 triệu, dân Trung Quốc ở Hồng Kông Macao: 32,6 triệu, ở Đài Loan: 1,3 triệu.
Từ ngày thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa tới nay, ngành du lịch Trung Quốc đều do nhà nước kinh doanh. Cục Du lịch quốc gia Trung Quốc thống nhất đảm trách việc quy hoạch tổng thể, hoạch định và quản lý các chính sách du lịch. Dưới Cục Du lịch có 4 đơn vị quốc doanh lớn của ngành du lịch là Quốc tế lữ hành xã chuyên trách việc đón tiếp du khách nước ngoài, sau đó là Trung Quốc lữ hành xã, Hoa kiều ở nước ngoài và dân Trung Quốc ở Hồng Kông, Macao, Đài Loan về thăm thân, tham quan, du lịch. Bốn đơn vị kinh doanh lớn này đều có Tổng bộ ở Bắc Kinh và các chi nhánh ở các tỉnh, thành phố và khu tự trị, hình thành một mạng lưới rộng lớn đón tiếp du khách trong toàn quốc.
Những năm gần đây, ngành du lịch Trung Quốc cũng tiến hành cải cách thể chế quản lý: đã chuyển 4 đơn vị kinh doanh du lịch lớn nói trên thành những thực thể kinh tế độc lập tự chủ kinh doanh, tự chịu trách nhiệm lỗ lãi. Đồng thời cũng đã tạo điều kiện pháp lý để các đơn vị kinh doanh du lịch khác ra đời, kể cả các đơn vị kinh doanh du lịch dân lập (gọi là các lữ hành xã dân gian). Vì vậy tới nay trong toàn quốc, Trung Quốc đã có tới 1500 đơn vị kinh doanh du lịch. Sau khi thể chế quản lý trói buộc, cứng nhắc bị bãi bỏ, ngành du lịch Trung Quốc trở nên dồi dào sức sống.
Ăn, ở, đi lại là 3 vấn đề cơ bản nhất của ngành du lịch từ trước tới nay, về các mặt này, Trung Quốc tương đối lạc hậu. Mười mấy năm gần đây, Trung Quốc đã xây dựng một loạt khách sạn cấp cao ở các thành phố lớn, các tỉnh và khu tự trị và các khu du lịch nổi tiếng. Chỉ tính riêng ở Bắc Kinh, đã có khoảng 30 khách sạn loại này; về trình độ hiện đại hoá, một số đã đạt loại 1 theo tiêu cuẩn quốc tế. Ngoài các khách sạn lớn này, nhiều tỉnh, thành còn xây dựng những khách sạn theo kiến trúc dân tốc và in đậm những nét riêng của địa phương mình: Thiểm Tây có khách sạn trong hang động, Nội Mông có khách sạn lều bạt, Vân Nam có khách sạn nhà sàn tre gỗ… Hiện nay, số khách sạn thuộc loại cấp cao mới chiếm 10%, cấp trung bình 40% và cấp thấp 50%.
Sau khi cải cách mở cửa, Chính phủ Trung Quốc cũng như Uỷ ban nhân dân các địa phương đã thực hiện có trọng điểm việc tôn tạo, xây dựng và mở mang những điểm và tuyến du lịch mới như tuyến du lịch Lệ Sơn – Thiểm Tây (có quần thể tượng gốm binh sĩ Tần Thuỷ Hoàng); tuyến bán đảo Sơn Đông, khi Viên Minh viên ở Bắc Kinh, Hoàng Hạc Lâu ở Vũ Hán và các tuyến “du lịch thảo nguyen”, “du lịch theo con đường tơ lụa Á – u thời xưa”… Trong “năm du lịch Hữu nghị 1992”, Trung Quốc đã chuẩn bị 40 điểm du lịch cấp quốc gia, 14 tuyến du lịch chuyên đề, còn ở các địa phương thì có tới trên 100 nội dung hoạt động du lịch và lễ hội dân gian.
Để thoả mãn nhu cầu của du khách, du lịch Trung Quốc đã tăng cường quản lý dịch vụ du lịch. Nhân viên phục vụ ở các đơn vị lữ hành và các khách sạn đều phải trải qua đào tạo chính quy, bài bản. Trung Quốc có hơn 200 trường trung cấp chuyên ngành du lịch, 20 trường đại học có mở khoa Du lịch hoặc ngành quản lý du lịch. Ngoài ra, Trung Quốc cũng cử nhiều cán bộ, sinh viên ra nước ngoài tham gia, học tập những kinh nghiệm tiên tiến trong quản lý du lịch.
Việc đi lại của du khách trong thời gian ở thăm Trung Quốc những năm gần đây cũng được cải thiện rõ nét. Hiện nay, ở những thành phố lớn và những thành phố cỡ vừa nhưng quan trọng của Trung Quốc, du khách đều có thể đến bằng máy bay, còn các thành phố khác thì đều có tầu hoả hoăc xe buýt công cộng hoặc xe buýt của ngành du lịch. Tóm lại, du khách muốn tới đâu đều có phương tiện giao thông để đi tới đó.
Trong mười năm gần đây tốc độ phát triển của ngành du lịch Trung Quốc tương đối nhanh: năm 1988, ngoại tệ thu về là 10,5 tỷ USD, năm 1991 tăng lên, đạt tới 28,4 tỷ USD và năm 1992 đạt 39,5 tỷ USD, gấp 15,2 lần so với năm 1978, năm đầu của cải cách, mở cửa. Nếu xếp thứ hạng theo thu nhập ngoại tệ do ngành du lịch đưa về thì năm 1978, Trung Quốc đứng thứ 41 trên thế giới nhung đến năm 1992 đã nhảy vọt lên thứ 18. Dự kiến, cuối thế kỷ này, số ngoại tệ do ngành du lịch mang lại cho Trung Quốc có thể đạt tới 100 tỷ USD.
Với công cuộc cải cách, mở cửa ngày càng tiếp tục mở rộng, với tốc độ phát triển kinh tế cao, khoảng cách giữa Trung Quốc và các nước tiên tiến trên thế giới về mặt phát triển du lịch sẽ ngày càng thu hẹp và Trung Quốc chắc chắn sẽ trở thành một cường quốc du lịch.
Hữu Nghị – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Khu Văn hóa Du lịch Bình An – Sóc Trăng và người nữ giám đốc Diệu Hiền

Khu Văn hóa Du lịch Bình An tỉnh Sóc Trăng là đơn vị thuộc doanh nghiệp tư nhân Diệu Hiền sáng lập thời gian gần đây và đưa vào hoạt động cuối quý 4 năm ngoái. Hiện nay Khu Văn hóa Du lịch Bình An đã thực sự chiếm cho mình một chỗ đứng khá vững chắc, cụ thể thời gian qua khu du lịch không những tiếp nhận khách ở địa phương đến tham quan mà kể cả khách tỉnh bạn đã thường xuyên ghé đến. Chúng tôi đã có cuộc gặp gỡ và trao đổi cùng chị Phạm Thị Diệu Hiền, Giám đốc Khu du lịch Bình An – Sóc Trăng về những định hướng cũng như sự phát triển của khu du lịch hướng tới.
Chào chị: Chị có thể cho biết đôi nét về quá trình hình thành của Khu Văn hóa Du lịch Bình An và động lực nào dẫn đến sự ra đời của nó ?
-Rất hân hạnh được anh ghé thăm và quan tâm đến. Về việc gọi là giới thiệu Khu Văn hóa Du lịch Bình An này thật lòng mà nói, khu du lịch chỉ ở thời điểm tân binh, hơn nữa sản phẩm dịch vụ du lịch thuộc hàng em út. Nên bản thân chỉ dám báo cáo còn giới thiệu….chắc không dám.
Khu Văn hóa Du lịch Bình An nguyên trạng trước đây là khu đất trống, nói rõ hơn chất đất cải tạo nông nghiệp không đạt canh tác cao. Tuy nhiên về vị trí rất thuận lợi trong giao thông bởi được tiếp giáp Quốc lộ 1A và cách trung tâm thị xã khoảng 3km, tóm lại trong nội hạt khu du lịch thuộc vùng ven ô nên thành lập du lịch rất lý tưởng. Riêng với các du khách ở xa các tỉnh rất thuận đường và dễ gây sự chú ý. Theo bản thân tôi ngoài những lợi thế trên, điều đáng ghi nhận hơn hết là hiện nay đất nước đang trên đà xây dựng phát triển qui mô du lịch “Điểm đến thiên niên kỷ mới”. Sự ra đời của Khu Văn hóa Du lịch Bình An nhất thiết không chỉ ở sự kinh doanh đơn thuần qua thời vụ mà còn mang ý nghĩa hết sức sâu sắc trong sự nghiệp chung góp phần xây dựng phát triển kinh tế đất nước hơn nữa đối với tỉnh nhà trong góc độ suy tưởng của cá nhân, xây dựng Khu Văn hóa Du lịch Bình An trên tinh thần được xác định qua 3 ý chính.
Tạo điều kiện công ăn việc làm cho người địa phương.
Góp một phần nhỏ mỹ quan cho tỉnh Sóc Trăng thêm phần sinh động tươi thắm của phố thị.
Là một trong những điểm hẹn dừng chân, tiêu biểu của Sóc Trăng, có được một nơi vui chơi lành mạnh trong giải trí cũng như tham quan, đặc biệt nơi đây cũng là một cầu nối giao lưu cho khách đến tìm hiểu Sóc Trăng trên nhiều lĩnh vực….
Hiện nay khu đã thể hiện những sản phẩm gì trong dịch vụ du lịch để thu hút khách, thưa chị ?
Thành lập một khu du lịch trong kinh phí đầu tư cá nhân, trong phạm vi có hạn “vốn tự có”, tuy có chiều sâu phát triển mạnh do đó trước mắt bước đầu ngoài tạo cho khuôn viên toàn khu 4 mùa hoa cảnh xanh mướt, một nhà hàng 700 ghế phục vụ ẩm thực bên cạnh đó, là nhà hát giã ngoại và các dịch vụ giải trí khác như: xe điện đụng, đoàn tàu tự hành, đu quay ngựa, nhà banh, mô tô đua, tàu bay thủy lực, thiên nga thuyền v.v… Hiện khu đang xây dựng khu giã sơn cao khoảng trên 20m và trên đỉnh là dãy “Vila” khách sạn tiêu chuẩn quốc tế 12 phòng, dự kiến hoàn công đầu quý IV năm nay.
Chị cho biết thêm vì sao cho tạc đôi tượng cùng hình ảnh Trưng Trắc – Trưng Nhị đang cưỡi voi oai phong lẫm liệt – tọa lạc ngay thành cổng vào khu du lịch ?
Chị Phạm Thị Diệu hiền:
Mỗi khu du lịch đều có nét riêng của nó nhưng nếu nói theo ý tưởng chắc anh cũng rõ bản thân mình là phụ nữ Việt Nam ít ra trong lòng cũng có một cái gì để mình tôn thờ và học hỏi…
Tôi xiết nhẹ tay cảm ơn chị Diệu Hiền và rất mong sao Khu Văn hóa Du lịch Bình An sẽ là một địa chỉ lý tưởng và thu hút khách trong và ngoài nước đến tham quan.
P.V – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Gặp các Cô Đầm ở xứ ta – Phần 2

Còn trường hợp của Orit thì sao?
Lúc bấy giờ ở Israel có lệnh tổng động viên, chúng tôi vào Quân đội. Sau sáu tháng ở quân trường, tôi được đi học một lớp thông tin liên lạc rồi được điều động về đại đội thông tin hữu tuyến của sư đoàn.
Tôi cười:
Cánh lính chiến chúng tôi thường gọi lính thông tin là lính chữ Thọ đấy Orit ạ.
Orit lắc đầu:
Chiến tranh hiện đại không có hậu phương, bất cứ lúc nào tên lửa tầm xa của đối phương cũng có thể rơi vào căn cứ của chúng tôi. Mỗi khi nghe còi báo động, chúng tôi phải đeo ngay mặt nạ chống độc, thao tác đã vất vả lại còn khó thở nữa. May mắn làm sao, hầu hết tên lửa Scout bay đến đều bị tên lửa đất đối không của Israel “Vô hiệu hóa” ngay trên quỹ đạo bay.
Thấy cô gái Israel đang say sưa chuyện sung ống, tôi vội lái dần sang chuyện khác:
Sau khi giải ngũ Orit sang ngay Việt Nam?
Orit giơ hai ngón tay ra trước mặt:
Tôi đi làm tiếp viên ở khách sạn 2 năm…
rồi Orit giơ tiếp bốn ngón tay:
… tôi để dành được 4.000 dollars chi cho chuyến đi này.
Tôi hỏi tiếp:
Tại sao Orit không đi máy bay mà lại đi xe lửa?
Orit trả lời:
Ở Israel, ngành đường sắt chỉ có hai tuyến đường: Tel Aviv đi Haifa 101 kilômét lên phía bắc và từ thủ đô Tel Aviv đi Gaza xuống phía nam dài 98 kilômét. Xe lửa Israel chạy với tốc độ 150 kilômét một giờ nên tôi lên tàu được một lúc đã đến ga rồi. Còn tàu ở Việt Nam, tuyến Sài Gòn (tôi nhắc Orit: Hochiminh City) vâng Thành phố Hồ Chí Minh – Hà Nội dài những 1.800 kilômét, với tốc độ này tôi tha hồ ngắm phong cảnh dọc đường.
Tôi hỏi Orit:
Sau khi đến Hà Nội Orit còn đi thăm những nơi nào nữa?
Orit móc túi ngực lấy cuốn sổ tay ra đọc:
Một là Vịnh Hạ Long, hai là Huế, ông chỉ dẫn giúp tôi nên đi những nơi nào nữa.
Tôi ghi một số danh lam thắng cảnh vào từng trang kèm lời chỉ dẫn lộ trình rồi đưa trả lại cuốn sổ tay cho Orit:
Orit lưu ý Bích Động đã xuất hiện trên cảnh đầu trong phim I‘Indochine của đạo diễn Régis Wargnier. Orit đã xem I’Indochine chưa?
Orit ngẩng đầu nhìn tôi.
Sao ở nước tôi các nhà báo lại nói phim I’Indochine quay tại Vịnh Hạ Long.
Tôi cười:
Từ Bích Động đến Vịnh Hạ Long những 200 kilômét. Bích Động có một số cảnh rất giống Vịnh Hạ Long nên chúng tôi còn gọi Bích Động là Hạ Long trên cạn. Chuyến này về Israel, Orit viết ngay một bài báo đạo diễn Régis Wargnier đã quay cảnh đầu của I’Indochine trên cả Hạ Long thuộc Vịnh Bắc Bộ lẫn Hạ Long trên cạn, chắc chắn các nhà báo phải ngả mũ chào.
Orit cười:
Xin cảm ơn.
Anh bạn tôi hỏi Orit:
Xin lỗi Orit, tại sao Orit không rủ một bạn trai đi cùng trong chuyến du lịch vạn dặm này?
Nếu tôi rủ bạn trai tôi đi, làm sao tôi có thể ngồi nói chuyện lâu với các bạn Việt Nam thế này được. Chắc chắn anh ấy sẽ vỗ vai tôi: Orit lên toa đi, tàu sắp chạy rồi đấy.
Vũ Bão – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Gặp các Cô Đầm ở xứ ta – Phần 1

Ra khỏi Bộ Văn hóa – Thông tin với hai bàn tay trắng, để giữ danh dự cho những người cầm bút, tôi nhất quyết không chịu đi chạy một bàn xổ số hay đi xí một điểm bơm xe làm mũi nhọn trong cuộc xóa đói giảm nghèo bù đắp chỗ thiếu hụt trong đồng lương hưu còm còn bỏ ngỏ; sẵn cây bút trong tay tôi nhảy tàu Bắc Nam nhập hộ tịch dân nhà tàu. Trong những chuyến đi xuôi về ngược ấy, nhiều chuyện vui buồn đã ập đến với tôi, nhiều con người đã đi qua đời tôi. Bây giờ dừng chân trong ngõ hẹp, trước khi chợp mắt tôi vẫn thấy từng khuôn mặt hiện lên với bao kỷ niệm khó quên.
Cô gái Israel
Tôi lại gặp Orit, cô gái người Israel trên một chuyến tàu Bắc – Nam. Đoàn tàu dừng bánh ở ga đón khách, lấy nước. Mười phút, hai mươi phút… đoàn tàu vẫn chưa chuyển bánh. Một giờ… hai giờ, thì ra ở ga phía trước, một đoàn tàu đã bị trật bánh. Chúng tôi lần lượt nhảy xuống sân ga tìm một quản giải khát. Một anh bạn tôi mời Orit uống cà phê, lúc đứng dậy, Orit bỏ tiền ra trả cốc cà phê của mình. Anh bạn tôi thân ái phê bình Orit: ở Việt Nam chủ nhà bao giờ cũng là người trả tiền. Orit trả tiền như thế là chưa hữu nghị đấy. Orit cười: ở Israel, cùng vào tiệm với nhau, ai dùng suất nào trả tiền suất ấy. Các anh không cho Orit trả tiền suất của mình cũng là chưa hữu nghị đấy.
Anh bạn tôi hỏi:
Xin lỗi nhé, tại sao Orit lại thích sang Việt Nam?
Orit quay sang nhìn anh bạn tôi:
Tôi đã xem một bộ phim của các nhà điện ảnh Mỹ làm về cuộc chiến tranh ở Việt Nam như Trung đội, Đồi thịt băm, Ngày tận thế, Chào Sài Gòn, Sinh vào ngày 4 tháng 7… và phong cảnh Việt Nam đã quyến rũ tôi. Những bộ phim đó được sáng tác dưới con mắt của người Mỹ, còn tôi, tôi lại muốn nhìn Việt Nam bằng đôi mắt của tôi.
Tôi hỏi Orit:
Những ngày ở Việt Nam Orit đã thấy những gì?
Orit khoát tay về phía hàng dừa trên sân ga:
Màu xanh bát ngát, thiên đường xanh ấy đã làm dịu mắt tôi vì tôi sinh ra và lớn lên ở một vùng chỉ có đồi cát và sa mạc. Tôi thèm từng nhánh cây xanh và ở đây ngày lại ngày tôi được đi dưới nhiều loại trái cây mà Israel không hề có. Tôi không sao nhớ nổi tên những trái cây quyến rũ ấy, nhân dân chúng tôi đã phải gánh chịu cuộc chiến tranh 30 năm.
Orit thở dài:
Dù sao lúc nào các anh vẫn còn có một đất nước còn dân Israel chúng tôi cứ phải sống lang thang trên khắp thế giới hơn một nghìn năm. Mãi đến ngày 15 tháng 5 năm 1946, ông cha chúng tôi mới được trở về mảnh đất cũ của tổ tiên.
Tôi vội lái câu chuyện sang một hướng khác để khỏi phải sa vào vấn đề chính trị phức tạp giữa Israel và Palestine:
Xin lỗi nhé, Orit làm nghề gì. Trông dáng vóc của Orit, tôi đoán Orit phải là một vận động viên.
Orit đặt nhẹ tay lên ngực:
Năm 18 tuổi tôi tham gia Quân đội.
Orit là lính quân dịch hay quân nhân chuyên nghiệp?
Ở Israel con gái cũng như con trai cứ đến 18 tuổi đều phải nhập ngũ. Hai năm sau, khi xuất ngũ chúng tôi ai đi học đại học hay đi học nghề tuỳ ý.
Vũ Bão – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Chân dung lữ khách Kazanzákis: “ Ân nhân của đời tôi là những chuyến đi bất tận”

Nikos Kazanzákis, nhà văn nổi tiếng của Hy Lạp được kể là người có máu giang hồ. Ông đi rất nhiều, từng đến Bắc Phi, Ai Cập, Palestine, Liên Xô (cũ), Thụy Sĩ, Tây Ban Nha, Áo, Đức, Italia, Anh, Pháp,Trung Quốc, Nhật Bản….Năm 1957, trong lần dừng chân ở Đông Đức để đi tiếp Trung Quốc, chẳng may ông bị ốm nặng rồi mất tại bệnh viện ở Frisbourg – en – Brisgau; thi hài được gửi về an táng tại đảo Crète, Hy Lạp – quê hương ông.
Nikos Kazanzákis sinh năm 1883 trong một gia đình nông dân tại Iráklion thuộc đảo Crète, Hy Lạp; năm 1897 Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ nổ ra cuộc chiến trên đảo Crète, gia đình ông phải lánh nạn sang đảo Nexos….Ông là người thông minh từ nhỏ, có tài văn thơ nhưng lại theo học luật, đỗ tiến sĩ tại Athènes, tiếp đó theo học triết tại Paris, khi về nước được giao chức Tổng Giám đốc Bộ xã hội, năm 1945 cất nhắc làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục Hy Lạp. Năm 1947 ông trở lại Pháp phụ trách cơ quan dịch thuật của UNESCO, chịu trách nhiệm dịch những tác phẩm cổ điển giá trị. Là người có thiên hướng viết văn nên ông tìm mọi cách từ giã chính trường và đời sống công sở để dành thì giờ cho sáng tác văn học; số lượng tác phẩm của ông để lại khoảng 30 cuốn, đáng chú ý nhất là Alexis Zorba, 1946; Le Christ Recrucifies (Chúa Jesus bị đóng đinh câu rút), 1954; 33.333 câu thơ viết tiếp cho Anh hùng ca Odyssée của Homère. Những tác phẩm của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng, chuyển thể kịch bản sân khấu, điện ảnh, trình chiếu rộng rãi khắp thế giới. Ngoài ra, ông còn dịch Thần Khúc (la Divine Comédie) của Dante, Faust của Goethe, Zarathustra của Nietzsche…. Năm 1952 nhiều tờ báo phương tây đưa tin ông có tên trong danh sách bình chọn khôi nguyên Nobel Văn chương, nhưng đáng tiếc bị hụt đúng một phiếu thuận !
Kazanzákis là nhà văn có biệt tài khai thác những đề tài xa xưa và cân đã để đối chiếu, xác định đạo lý hiện đại; nhân vật của ông có tính cách mạnh mẽ và sinh động, có lần ông nói: cả tâm hồn tôi là một tiếng thét, trọn tác phẩm của tôi là lời chú giải cho tiếng thét ấy. Kiệt tác Alexis Zorba của ông đã được hãng phim 20 th Century – Fox nổi tiếng của Hollywood dàn dựng công phu, siêu sao Anthong Quinn thủ vai Zorba. Tác phẩm văn học nổi tiếng này khi chào đời đã gây tiếng vang lớn và được giới phê bình văn học u – Mỹ hết sức quan tâm; tạp chí Time Magazine đánh giá là: Nhân vật Zorba xuất hiện khiến cho những nhân vật trong phần lớn tiểu thuyết hiện đại có vẻ như những bóng ma mờ nhạt; Zorba là tất cả những nhân vật (ở những cuốn tiểu thuyết kia) gặp lại và chỉ nói tiếng Hy Lạp.
Ngoài những đóng góp to lớn trên lĩnh vực văn học tiến bộ, Nikos Kazanzákis còn được coi là nhà du lịch tầm cỡ, những sự kiện ấy được ông phản ánh trung thực và đầy đủ trong tập Những chuyến đi viết về những năm 1937, 1957, 1958. Vì là người ham xê dịch, nên ông thường phát ngôn: n nhân lớn nhất trong đời tôi là những chuyến đi bất tận, vì nó đã mở cho tôi tầm nhìn và chắp cho tôi đôi cánh ước mơ….
Trần Xuân – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

7 (M) Bàn về các thành phần của công nghệ du lịch

Năm 1845, ông Thomas Cook đã lập hãng lữ hành đầu tiên tại nước Anh. Ổng tổ chức các chuyến du lịch theo nhóm và thu xếp việc đi lại cho khách. Những chuyến du lịch theo nhóm và thu xếp việc đi lại cho khách. Những chuyến du lịch lý thú, sang trọng ra nước ngoài, có hướng dẫn viên đã thu hút được các khách du lịch giàu có cả ở Anh và Mỹ. Ông đã trang bị cho hãng những trang thiết bị thông tin tiện lợi, cùng các vật dụng phục vụ theo yêu cầu của khách. Đội ngũ nhân viên được huấn luyện kỹ càng. Ông đã không tiếc tiền đầu tư mở rộng hãng. Với sự quản lý tốt, hãng của ông cùng với cái tên Thomas Cook đã được biết đến ở khắp nơi trên thế giới như một hãng lữ hành hiện đại đầu tiên.
Nhà khai thác dầu ở Tezzas, ông Conrad Hilton, sinh năm 1887 ở New Mexico. Năm 1919 ông đi du lịch tới Cisco, bang Texas với ý định mua một ngân hàng. Thay vào ý định ban đầu, ông đã mua một khách sạn nhỏ tên là Mobley. Với khả năng tiếp thị tốt, trong vòng 20 năm. Hilton đã có trong tay những khách sạn nổi tiếng như Town House ở thiết bị hiện đại, nhân viên phục vụ lành nghề và tổ chức quản lý tiên tiến. Với sự thành đạt về tài chính, trong sự cạnh tranh quyết liệt giữa Hilton, Sheraton và Statler, năm 1954 Hilton đã nắm quyền quản lý kinh doanh của tập đoàn khách sạn Statler.
Theodore Arison đã thành lập hãng tàu biển Carrival Cruise Lines năm 1972. Con tàu đầu tiên là Mardi Gras, được cải tạo từ con tàu chạy bằng hơi nước đóng ở Canada từ năm 1961. Để thu hút các cặp vợ chồng trẻ và các gia đình du lịch tàu biển, Arison đã cho thiết kế sòng bạc, phòng chiếu phim, phòng ăn có nhạc sống. Sau khi trang bị lại, thay đổi đội ngũ phục vụ và tổ chức quản lý các chuyến đi, hãng Carrival đã thu được kết quả bất ngờ, lượng khách tăng nhanh.
Tuy ở 3 lĩnh vực khác nhau, song các nhà kinh doanh du lịch thành đạt đều tiến hành công việc theo một công nghệ chung, bao gồm các thành phần kết cấu riêng biệt, có mối quan hệ mật thiết với nhau. Đầu tiên là việc tạo ra được sản phẩm du lịch hấp dẫn và mới. Tiếp theo, là công việc tiếp thị các sản phẩm nhằm vào đúng nhu cầu và thị hiếu của khách và biến nhu cầu thành hiện thực bằng những chương trình hưởng thụ các sản phẩm du lịch. Để có nhiều sản phẩm du lịch và khách du lịch, phải có trang thiết bị và vật tư phù hợp cùng với đội ngũ nhân viên thành thạo. Và đương nhiên phải có nguồn tài chính để đầu tư thực hiện công việc, khâu cuối là việc tổ chức, quản lý và điều hành. Tổ hợp hài hòa các thành phần này trong một tổng thể hoạt động, tạo thành công nghệ du lịch.
Như vậy, các thành phần công nghệ du lịch bao gồm 7 bước chính:
Hình thành sản phẩm du lịch (Making)
Tuyên truyền, quảng bá du lịch (Marketing)
Phương tiện thiết bị phục vụ du lịch (Marchine)
Nguyên vật liệu phục vụ du lịch (Material)
Nguồn nhân lực du lịch (Manpower)
Tài chính đầu tư cho du lịch (Money)
Quản lý du lịch (Maragement)
Đó chính là nội dung của 7 (M).
Kỳ sau: POSE ASPPRIM Bàn về kế hoạch hóa trong du lịch
Đàm Viết Lọc-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999