Khách sạn du lịch – môi trường phát huy

Khách sạn du lịch – môi trường để phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Trong một thời gian dài, các sân khấu không mặn duyên với âm nhạc dân tộc thì các khách sạn và các đoàn ca múa nhạc dân tộc tìm đến nhau và điểm này đã giúp cho tòa nhà hiện đại của khách sạn trở nên có hồn hơn, cứ thế 2 bên cần có nhau, dựa vào nhau để tồn tại cho đến khi có nghị quyết Trung ương V soi sáng. Anh Trần Đình Sanh – Giám đốc Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh, Đà Nẵng, tâm sự. Có một giai đoạn tường không tìm được khán giả, giữa các anh chị em biểu diễn đã có lúc nổ ra tranh luận gay gắt liệu có tồn tại hay không tồn tại? Và tồn tại bằng cách nào? Từ khi đất nước mở cửa cũng nhờ các khách sạn hợp đồng biểu diễn, các hang lữ hành đến đặt hàng đã giúp cho các anh có đất diễn. Thù lao cũng cần nhưng là phụ, cái chính là diễn viên có dịp thể hiện sức sáng tạo của mình, sống với đam mơ của mình. Bây giờ thì khác rồi, Nghị quyết Trung ương V về giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, chấn hưng văn hóa đã là chỗ dựa tinh thần cho các anh. Từ nghị quyết đến cuộc sống cần có thời gian, vì vậy các khách sạn du lịch vẫn là đất diễn của các đoàn chỉ khác chăng bây giờ họ đã lấy lại niềm tin và đã luyện tập nhiều chương trình phong phú phục vụ khách, tùy mỗi địa phương, ở mỗi khách sạn có mỗi nét độc đáo riêng. Nếu bạn đến khách sạn Hương Giang – Huế chắc chắn được xem ca máu nhạc cung đình, hoặc đi thuyền dọc Hương Giang để nghe những giọng hò Huế thiết tha, trữ tình; đến Đà Nẵng tại các Khách sạn Faifo, Bamboo, Green… tối đến có chương trình biểu diễn ca múa nhạc dân tộc phục vụ trong lúc khách ăn tối. Các món ăn thuần túy Việt Nam trong một không gian hồi cổ đã đưa du khách châu u đến với nền văn hóa Phương Đông một cách nhẹ nhàng nhất. Ở các khách sạn Furama hàng chiều tại khu tiền sảnh, trong nhà hàng Indochina đều có nhạc công thổi sáo, chơi đàn bầu, đàn t’rưng. m thanh quyến rũ lạ tai của các nhạc cụ dân tộc đã làm cho khách nước ngoài từ ngạc nhiên đến thích thú. Những lần có tiệc Buffet, mặc dù món ăn phục vụ kiểu u nhưng bên ngoài bao giờ cũng bố trí một chiếc xích lô, một người phụ nữ gánh hàng; một khung cửi dệt thủ công, còn bên trong là những ngọn nến lung linh. Trong không gian ấy khách vừa ăn vừa uống vừa xem múa Chăm, nghe các ca khúc trữ tình của các ban nhạc dân tộc Hoa Quỳnh. Còn ở Hội An đêm phố cổ, điệu hòa khoan đối đáp trên sông nước, giữa một đêm trăng sáng lung linh ánh đèn lồng đưa ta về với cội nguồn. Vào phía Nam đến các khách sạn Nha Trang xem biểu diễn múa Chăm của đoàn ca múa Ninh Thuận hoặc đến Rex, Continetal Saigon. Mỗi một khách sạn đều có một chương trình giải trí bằng ca nhạc dân tộc cho du khách. Với khách nước ngoài trước tiên là phải nói sức hút lạ mắt của trang phục, sau đó là âm thanh của các nhạc cụ, của trống, của tiếng cồng Tây Nguyên không những lạ tai mà còn có sức quyến rũ mê hồn. Chính nét độc đáo riêng đó đã góp phần làm cho các giai điệu Việt Nam ngưng đọng lâu hơn trong lòng du khách. Còn đối với chúng ta thì sao? Trong khi đối với giới trẻ đam mê nhạc rốc, pop, những người lớn tuổi lại thích sự lặng lẽ có hồn của lời ca điệu hò được sáng tạo qua bao đời, nghệ thuật đích thực có truyền cảm và quan trọng là nó có tính hướng thiện, giúp người thư giãn, tránh những xô bồ của cuộc sống sôi động trong cơ chế thị trường.
Người trong kiến trúc khách sạn, trang trí nội thất, những khách sạn trở về lối xưa càng có sức hấp dẫn với khách. Nếp xưa trong kiến trúc, nếp xưa trong tràng phục, nếp xưa trong ẩn thực… tất cả điều nhằm phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Những người du lịch có quyền tự hào là một trong những ngành tiên phong đưa Nghị quyết Trung ương V vào cuộc sống.
Dương Thị Thơ – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 8(173)2001

Dự báo du lịch châu Á – Thái Bình Dương năm 2001 – 2004

Trong nửa cuối thập kỷ vừa qua, lượng khách du lịch quốc tế và doanh thu du lịch trên toàn thế giới tăng với tốc độ trung bình hàng năm tương ứng là 3,7% và 2,71%. Điều đó đã hoàn toàn thay đổi cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế châu Á vào năm 1997 với doanh thu dịch vụ quốc tế chỉ tăng 0,3% trong năm 1998. Lượng khách du lịch châu Á – Thái Bình Dương năm 1995 là 166.046 ngàn người, đến năm 1999 lên 185.814 ngàn người.
Xu hướng phát triển của du lịch toàn cầu giữa khu vực này với khu vực kia là khác nhau. Lượng khách tới khu vực PATA giảm đáng kể trong năm 1998 nhưng tăng mạnh trở lại trong năm 1999 với 4,7%. Thị phần doanh thu còn giảm nhiều hơn nữa, từ 39,2% tổng doanh thu du lịch thế giới, năm 1998 chỉ còn 36,4%. Nguyên nhân chính của việc giảm doanh thu là việc mất giá đồng tiền các nước châu Á Trong giai đoạn này. Mặc dù vậy, theo thống kê về lượng khách và doanh thu du lịch trên thế giới thì có đến 10 nước và vùng lãnh thổ châu Á nằm trong danh sách 40 nước đứng đầu về lượng khách đến, đó là: Trung Quốc, Hồng Kông, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Australia, Nhật Bản và Macao. Do các điểm du lịch khu vực châu Á – Thái Bình Dương có khoảng cách xa, thời gian khách du lịch lưu trú thường dài hơn, nên hầu hết các điểm du lịch trong khu vực này có doanh thu xếp ở vị trí cao hơn là lượng khách (ví dụ như ở Ấn Độ và Philippines đã lọt vào danh sách 40 nước đứng đầu về doanh thu du lịch).
Trong năm 1990, các điểm du lịch thu hút được nhiều khách nhất là Malaysia, Hồng Kông, Thái Lan và Hawaii do lượng khách du lịch Nhật Bản đến nhiều và chi tiêu ở mức cao. Đến năm 1998, Malaysia, Hồng Kông, Thái Lan, Singapore tiếp tục là những điểm thu hút được nhiều khách du lịch Trung Quốc, Indonesia và Australia. Trung Quốc và Australia nằm trong danh sách các nước có doanh thu du lịch cao nhất trên thế giới năm 1998, chủ yếu là khách Nhật Bản. Các nước có doanh thu lớn tiếp sau là Thái Lan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore.
Thời gian lưu trú giữa các điểm du lịch cũng như không đồng đều. Ấn Độ, Australia và Niu Di lân là những nước thu hút được khách du lịch lưu lại lâu nhất, một phần do diện tích lớn và sự đa dạng của điểm du lịch. Australia và Niu Dilan có thị trường khách đến thăm thân lớn nhất, đây cũng là một nguyên nhân để khách lưu lại lâu hơn. Ngoài ra, chi phí sinh hoạt trung bình một ngày ở hai quốc gia này cũng thấp hơn.
Về chi tiêu, khách du lịch Nhật Bản có xu hướng chi tiêu trung bình trong ngày cao nhất, sau đến Ấn Độ và Singapore vì họ có nhu cầu mua sắm rất cao. Mua sắm cũng đóng vai trò quan trọng tăng doanh thu cho Thái Lan và Hồng Kông. Các nước thu hút nhiều khách thăm thân ẽ có mức doanh thu trung bình trong ngày ít hơn vì doanh thu từ dịch vụ lưu trú bị hạn chế.
Về mục đích chuyến đi, khách du lịch kết hợp thương mại đến các điểm du lịch của khu vực này như Pakistan, Nhật Bản, Hồng Kông, Trung Quốc, Đài Loan và Indonesia chiếm khoảng trên 25% tổng lượng khách. Lượng khách du lịch kết hợp thương mại tới Australia, Niu Dilan, Malaysia và Thái Lan chiếm chưa đến 10%.
Nhìn chung, khách sạn là loại hình lưu trú chính của khách du lịch quốc tế. Khách thăm thân có chiều hướng lưu trú tại nhà dân, còn khách đi cả gia đình thì thích sử dụng dịch vụ lưu trú cho thuê lưu động và cắm trại… Đa số các điểm hiện nay đang thừa cơ sở lưu trú do việc suy giảm lượng khách vì bị ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính trong năm 1997 – 1998. Kết quả là bộ phận khách sạn chỉ thu được tỷ lệ sử dụng phòng thấp và lợi nhuận ít ỏi. Theo thống kê của Athur Anderson Hotel Industry Benchmark thì chỉ có hai trong số 15 thủ đô ở châu Á có tỷ lệ sử dụng phòng từ 80 – 90%.
Theo các nhà phân tích dự báo, trong những năm tới 2001 – 2005 lượng khách du lịch quốc tế ở một số điểm du lịch châu Á – Thái Bình Dương tăng mạnh và bền vững trong thời gian vài năm tới. Tổng lượng khách du lịch đến các nước Nam Á sẽ tăng trung bình 6,6% năm 2001 và 5,5% năm 2004 (trong đó Việt Nam là 7,8% năm 2001 và 7,0% năm 2004). Các nước Đông Bắc Á 9,8% năm 2001 và 8,0% năm 2004; Các nước châu Đại Dương đạt 7,9% và năm 2001 và 6,7% năm 2004. Mặc dù Đông Nam Á được dự báo sẽ có mức tăng trưởng doanh thu thấp hơn mức trung bình so với các khu vực khác của châu Á – Thái Bình Dương trong tương lai gần, nhưng khu vực này vẫn sẽ có tốc độ tăng tổng doanh thu trên 8% năm từ nay đến năm 2004.
Quốc Minh – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT- DL – Hà Nội – Năm 14(179)2000

Nếu Hàng không và Du lịch không hợp tác chặt chẽ… – Phần 2

Nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch – hàng không Việt Nam: Đây là vấn đề thể hiện cụ thể sự hợp tác toàn diện hàng không du lịch. Sản phẩm chung hàng không – du lịch Việt Nam sẽ mang đậm bản sắc Việt Nam, có sức cạnh tranh trên thị trường du lịch và hàng không quốc tế, đem lại hiệu quả kinh tế cho mỗi ngành, đồng thời nó cũng là một công cụ thông tin tuyên truyền hiệu quả cho hình ảnh của Việt Nam nói chung và hai ngành du lịch – hàng không nói riêng. Tuy nhiên việc giải quyết các thủ tục pháp lý cho các doanh nghiệp vận chuyển hàng không Việt Nam phối hợp với các doanh nghiệp Du lịch xây dựng, bán, tổ chức và thực hiện các sản phẩm du lịch chung vẫn chưa được hoàn thành.
Phóng viên: Xin cục trưởng cho biết sự phối hợp giữa hai ngành hàng không và du lịch nhằm giải quyết tình trạng vắng khách ở Việt Nam hiện nay?
Cục trưởng Cục hàng không dân dụng Nguyễn Tiến Sâm: Một điều đáng mừng là trị trường vận tải hành khách Việt Nam và khu vực đã phục hồi và dần thoát khỏi tình trạng của khủng hoảng kinh tế năm 1998. Trong sáu tháng đầu năm 1999 Vietnam Airlines đã vận chuyển được 1.301.042 hành khách (tăng 4,6% so với cùng kỳ năm 1998) trong số đó lượng khách trên các tuyến quốc tế là 496.039 (tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 1998), lượng khách trên các tuyến nội địa là 805.003 (tăng 2% so với cùng kỳ năm 1998). Tổng thị trường vận tải hàng không quốc tế của Việt Nam sáu tháng đầu năm 1999 tăng 7,5%, so với tốc tăng trưởng 2% của năm 1998 so với năm 1997. Điều này thể hiện sự chỉ đạo và lãnh đạo sâu sát của các cơ quan quản lý Nhà nước cụ thể của hai ngành hàng không và du lịch, nhất là trong điều kiện khủng hoảng.
Vận tải hàng không và du lịch là hai ngành dịch vụ, ngoài các yếu tố nội tại của mỗi ngành, muốn phát triển còn phải tính đến các yếu tố chung khác như tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam so với các sản phẩm tại thị trường khác trong khu vực, bao gồm sự phát triển hạ tầng du lịch cũng như các dịch vụ bổ trợ khác. Chúng tôi tin tưởng rằng, việc thực hiện thành công Chiến lược hội nhập quốc tế của mỗi ngành, một phần được thể hiện bằng kế hoạch hành động quốc gia về du lịch và Thỏa thuận liên ngành sẽ góp phần vào sự thành công của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa Việt Nam thành một trung tâm du lịch và hàng không của khu vực.
Phóng viên: Vấn đề hợp tác giữa Cục hàng không dân dụng Việt nam với các hãng hàng không nước ngoài hiện ra sao ?
Cục trưởng Cục hàng không dân dụng Nguyễn Tiến Sâm: Cục hàng không dân dụng luôn khuyến khích các doanh nghiệp vận chuyển hàng không Việt Nam mở rộng hợp tác với các hãng hàng không nước ngoài trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi. Trong tổng số 16 hãng hàng không nước ngoài hiện đang khai thác chuyến bay quốc tế thường lệ đến Việt Nam, Vietnam Airlines đã hợp tác dưới nhiều hình thức khác nhau (khai thác chung, bay liên doanh, mua chỗ, trao đổi chỗ…) với 10 hãng. Đây là một tỷ lệ không nhỏ và có hiệu quả rõ rệt, tạo điều kiện cho Vietnam Airlines dần thích nghi và hội nhập quốc tế trong môi trường cạnh tranh khốc liệt trên thị trường vận tải hàng không quốc tế. Sự hợp tác này cũng tạo điều kiện cho Vietnam Airlines hợp tác với các đơn vị ngành du lịch trong việc xây dựng sản phẩm du lịch – hàng không Việt Nam có khả năng cạnh tranh và thu hút nguồn khách du lịch quốc tế, ngay cả trong điều kiện các doanh nghiệp vận chuyển hàng không Việt Nam chưa có khả năng bay đến hầu khắp các vùng của thế giới. Tôi cũng xin khẳng định một điều nếu hàng không và du lịch không hợp tác chặt chẽ sẽ không có sản phẩm chung tốt, hấp dẫn so với các đối thủ cạnh tranh của du lịch – hàng không Việt Nam, và thực tế chúng ta sẽ chỉ là người phục vụ cho việc xây dựng các sản phẩm du lịch của nước ngoài.
Xin chân thành cảm ơn Tuần Báo Du Lịch đã dành cho chúng tôi cơ hội để trình bày những vấn đề quan trọng trên, và mong rằng bạn đọc đông đảo của Báo sẽ luôn ủng hộ và nâng niu đôi cánh du lịch – hàng không của chúng ta.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Cục trưởng !
Thanh Thanh Vân – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Nếu Hàng không và Du lịch không hợp tác chặt chẽ… – Phần 1

Phỏng vấn đồng chí Nguyễn Tiến Sâm, Cục trưởng Cục hàng không dân dụng Việt Nam, Ủy viên Ban chỉ đạo Nhà nước về du lịch.
Phóng viên: Là thành viên của Ban chỉ đạo Nhà nước về du lịch, xin đồng chí cho biết kế hoạch và các chương trình hợp tác cụ thể của ngành Hàng không trong việc thực hiện chương trình du lịch Quốc gia năm 2000.
Cục trưởng Cục hàng không dân dụng Nguyễn Tiến Sâm: Hàng không và du lịch là hai ngành kinh tế gắn bó với nhau rất mật thiết và từng được ví như hai cánh của một máy bay. Hợp tác hàng không du lịch toàn diện, đồng bộ là tất yếu để phát triển nội lực của hai ngành. Nhằm thể chế hóa và thúc đẩy hơn nữa sự hợp tác này, ngày 25/2/1999 hai ngành đã ký thỏa thuận liên ngành tăng cường hợp tác du lịch và hàng không, đưa ra nguyên tắc và các hình thức hợp tác cụ thể sao cho có hiệu quả. Nội dung cơ bản của thỏa thuận được cụ thể hóa trong Kế hoạch triển khai Chương trình quốc gia về du lịch và các sự kiện du lịch năm 2000, tập trung ở những kế hoạch đã và đang được thực hiện sau:
Về hạ tầng cơ sở và mạng đường bay: Để thực hiện chủ trương hội nhập và chiến lược biến Việt Nam, với ba cửa ngõ sân bay quốc tế thành một trong những trung tâm hàng không quốc tế của khu vực, ngành hàng không dân dụng chú trọng đầu tư cải tạo, nâng cấp, mở rộng các sân bay địa phương để có khả năng đón nhận những tàu bay lớn hơn, dự kiến trong năm 1999 hoàn thành kế hoạch sửa chữa các sân bay Hải Phòng, Pleiku, Huế, Điện Biên, Cà Mau, Phú Quốc. Ngành hàng không dân dụng cũng đã chuẩn bị và sẵn sàng mở rộng các tuyến đường bay giữa Việt Nam tới các điểm du lịch quốc tế như châu u, Bắc Á, kể cả Bắc Mỹ.
Về thông tin, quảng cáo: Trên cơ sở Thỏa thuận liên ngành, Tổng công ty hàng không Việt Nam phối hợp với Tổng cục du lịch thực hiện một số công việc cụ thể như: xây dựng Trang chủ (web site) Vietnam Tourism trên Internet; tham gia hội chợ du lịch trên ITB (Đức); hội chợ du lịch tại Pháp; đón đoàn lãnh đạo Tổng cục du lịch Trung Quốc; tham gia hội thảo, hội nghị PATA. Các đơn vị ngành hàng không dân dụng được giao nhiệm vụ chủ trì hoặc phối hợp trong Kế hoạch triển khai chương trình hành động Quốc gia về du lịch và các sự kiện du lịch năm 2000, cụ thể như: mời các nhà báo nước ngoài vào thăm và viết bài về du lịch Việt Nam; tổ chức các chuyến khảo sát giới thiệu các sản phẩm du lịch Việt Nam cho các hãng lữ hành nước ngoài từ các thị trường: Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Úc, Bắc u; giúp Tổng cục du lịch đặt văn phòng thông tin du lịch ở một số nước là thị trường du lịch trọng điểm của Việt Nam; phối hợp với các đơn vị du lịch cung cấp chất lượng sản phẩm du lịch – hàng không Việt Nam. Tới đây, chúng tôi sẽ chủ trì, có sự phối hợp với các đơn vị du lịch để tuyên truyền về du lịch Việt Nam tại Hội nghị lần thứ 35 các Cục trưởng Cục hàng không dân dụng khu vực châu Á – Thái Bình Dương được tổ chức vào tháng 9/1999 tại Hà Nội, với sự tham gia của đại diện của khoảng 43 nước thuộc khu vực và nhiều Tổ chức quốc tế.
Đơn giản hóa thủ tục thực sự là một trong những yếu tố thúc đẩy phát triển du lịch. Thông qua Ủy ban đơn giản hóa thủ tục vận chuyển hàng không quốc tế, Cục hàng không dân dụng đã tích cực phối hợp với Cục lãnh sự – Bộ Ngoại giao, Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh, Hải quan để giải quyết những vấn đề cụ thể nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các hãng hàng không cũng như sự đi lại của hành khách. Xét đề nghị của Ủy ban, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 448/QĐ-TTg ngày 24/4/1999 bổ sung đại diện Tổng cục du lịch làm thành viên của Ủy ban. Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ xây dựng xong Chương trình Quốc gia về Đơn giản hóa thủ tục trong vận chuyển hàng không quốc tế trình Chính phủ thông qua để tổ chức thực hiện, đồng thời tiếp tục thực hiện những thỏa thuận đã đạt được giữa các cơ quan trong khuôn khổ Ủy ban cũng như giải quyết những vấn đề mới phát sinh, tạo sự thông thoáng cho du lịch.
Thanh Thanh Vân – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Với cách đặt tên độc đáo

Minh Mạng với cách đặt tên độc đáo, nhắc tới nhà Nguyễn – vương triều phong kiến cuối cùng của Việt Nam, người ta hay nói tới những biến cố chính trị trong suốt thời gian tồn tại, kinh thành Huế và lăng tẩm đến đài Miếu mạo bên dòng Hương Giang thơ mộng. Nhưng xét khía cạnh văn hóa nổi lên Minh Mạng – một ông vua thông minh, hiếu học, năng động, quyết đoán và ham hiểu biết nhất. Từ khi lên ngôi đến khi mất (1920 – 1940), ông đề ra nhiều chính sách phát triển kinh tế, đào tạo nhân tài, canh tân đất nước, Minh Mạng còn được nhắc đến bởi phép đặt tên có một không hai của ông đối với các hoàng tử con cháu trong hoàng tộc.
Là người tinh thông nho giáo, sung đạo Khổng – Mạnh, Minh Mạng dựa vào nguyên tắc chính danh định phân, đề ra cách đặt tên ghép, diễn bằng Thơ nôm gồm 11 bài trong đó 1 bài “ Đế hệ thi (bài thơ làm vua) có 20 chữ: Miên (phúc dài); Hồng (đẹp); Ưng (hùng mạnh); Bửu (giàu sang); Vinh (công danh sáng lạn); Bảo (khí dũng); Quý (phú quý); Định (quyết đoán); Long (phúc rồng); Trường (vĩnh cửu); Hiền (tài giỏi); Năng (làm việc khuôn phép); Kham (giỏi việc); Kế (nhiều mưu); Thuật (nghe dân); Thế (gia tộc vinh hiền); Thoại (quý báo); Quốc (lấy dân làm gốc); Gia (hoàng tộc huy hoàng); Xương (thiên hạ thái bình).
Toàn bộ bài thơ “Đế hệ thi” là những câu chữ ý nghĩa uyên thâm sâu xa, tốt đẹp. Theo cách này, tất cả con trai của Minh Mạng sẽ bắt đầu lên đế hệ Miên cộng với tên chữ do gia đình đặt con của Miên sẽ có tên là Hồng rồi Ưng … cho đến Xương.
10 bài “Phiên hệ thi” cũng theo quy tắc trên gồm 20 câu bắt đầu tư Tịnh, Hoài, Chiêm, Viên, Ái, Cảnh, Ngưỡng, Mẫu cho đến Thanh, Kha, Nghiễm, Khác, Do, Trung, Đạt, Liên,Trung, Tập, Cát, Đa.
Mục đích giáo huấn của 11 bài này là qui định dòng đế hệ làm vua, dòng phiên hệ có trách nhiệm làm phên dậu bảo vệ đế hệ. Khi ban ra, Minh Mạng nói: “Nhà Chu xưa bói 30 đời làm vua 700 năm; nay dòng Nguyễn Phúc được trời cao soi xét cho hưởng 20 đời làm vua 500 năm chẳng dám mong nhiều. “Từ đó trở đi, các ông vua theo đế hệ có tên: Miên Tông – Thiệu Trị; Hồng; Nhậm – Tự Đức; Hồng Dật – Hiệp Hòa; Ưng Chân – Dục Đức; Ưng Đăng – Kiến Phúc; Ưng Lịch – Hàm Nghi; Ưng Đường – Đồng Khánh; Bửu Lân – Thành Thái; Vĩnh San – Duy Tân; Bửu Đảo – Khải Định; Vĩnh Thuy – Bảo Đại. Như vậy là trong khoảng hơn 100 năm tồn tại, có được 11 người làm vua theo đế hệ đến chữ thứ 5 – Vĩnh tức Vĩnh Thuy Bảo Đại – ông vua cuối cùng bị cách mạng năm 1945 lất đổ.
Những bài thơ “Đế hệ thi” và “Phiên hệ thi” được đặt ra để tranh chấp ngôi vị trong nội bộ hoàng tộc nhà Nguyễn. Theo cách đó, nó đảm bảo đế nghiệp lâu dài cho dòng họ, nhất là khi diễn Nôm nên dễ học, dễ thuộc. Vì vậy, nhắc tới Minh Mạng, chúng ta hẳn sẽ nhớ cách đặt tên ghép đôi đọc đáo “Vô tiền khoản hậu” của ông.
Nguyễn Văn Hoàn – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Hưng Yên “Nhà nông đối mặt với giống nhãn giả”

Nếu như ở Thanh Hà (Hải Dương) và Lục Ngạn (Bắc Giang), cây vải đã tạo những “cú huých” cho đời sống nhà nông đầy ngoạn mục thì tại Hưng Yên, cây nhãn truyền thống cũng đâu có kém cạnh. Năm 1999 này, sản lượng nhãn toàn tỉnh ước khoảng 15 ngàn tấn, tổng thu cũng cỡ 100 tỷ đồng. Người trồng nhãn giàu lên vì nhãn chẳng còn hiếm hoi nữa. Giờ đây ở Hưng Yên, tất cả những gì liên quan đến nhãn đều trở nên đắt đỏ. Từ đất trồng nhãn, cành nhãn, mắt nhãn, giống nhãn v…v… đều được bán với giá kha khá.
Nhưng sự thật hiển nhiên này đã làm nảy sinh nhiều mặt trái xoay quanh cây nhãn. Ngoài việc nông dân lấn đất ruộng trồng nhãn, thời gian gần đây nổi cộm lên việc ở Hưng Yên xuất hiện lan tràn giống nhãn giả. Cây giống không được chiết hoặc ghép từ cây mẹ sức sống tốt, quả chất lượng cao. Cành chiết hoặc mắt ghép của giống quả đều lấy từ cây thường nên cho quả chất lượng thấp. Nguyên nhân xuất phát từ nhu cầu giống tốt quá lớn không đáp ứng đủ nên nhiều cơ sở ươm giống, hộ nông dân vô đạo đức cứ làm bừa giống giả rồi đem bán. Đã có rất nhiều người trong, ngoài tỉnh mua phải loại giống nhãn giả này. Giống giả nên chất lượng quả thấp và kéo theo là giá bán nhãn tụt xuống. Nhãn loại tốt giá 30.000 đồng/kg còn loại này chỉ 20.000 đồng/kg hoặc nhỉnh hơn một chút. Tất nhiên người bán giống giả bao giờ cũng có lãi bởi giống tốt giá từ 10.000 đồng – 15.000 đồng/cây còn giống giả chỉ 7.000 đồng – 8.000 đồng/cây. Hiện tượng cây nhãn giống giả tràn lan khiến nhiều người có nhu cầu cần mua nhưng thật giả lẫn lộn, chẳng biết đâu mà lần. Một số cơ sở, cá nhân có uy tín thì không đủ giống tốt cung cấp cho thị trường. Nhiều nơi làm giống giả còn đề nghị những cơ sở uy tín “liên doanh” bán giùm giống “đểu” rồi chia lợi nhuận. Cũng may không ai dám chấp nhận “lời đề nghị khiếm nhã” này. Thực ra lãnh đạo tỉnh Hưng Yên không phải không biết điều này. Biện pháp khắc phục tình trạng này là một dự án thành lập vườn ươm giống nhãn do tỉnh làm chủ đầu tư. Mục đích thì tốt nhưng hiềm một nỗi số vốn đầu tư nặng quá, chịu không nổi. Riêng năm đầu phải rót vào gần 1 tỷ đồng, hai năm sau mỗi năm khoảng 600 triệu đồng nữa. Và thế là, dự án này cho đến giờ vẫn chỉ là ý tưởng. Còn ngoài thị trường giống nhãn giả vẫn được bán vô tội vạ.
Hưng Yên đã nổi tiếng vì cây nhãn. Nhưng, để đảm bảo cho danh tiếng đó đứng vững được thì còn rất nhiều việc phải làm. Trước, cần thiết nhất là phải loại bỏ giống giả đang tràn lan hiện nay.
Hướng tới Hội chợ IT & CMA ‘99
Năm nay, một trong những tập đoàn tổ chức Hội chợ Du lịch và truyền thông báo chí chuyên ngành du lịch Quốc tế lớn nhất của Miller Freeman sẽ tổ chức Hội chợ khen thưởng và Hội nghị Hội thảo Du lịch (IT & CMA ‘99) lần thứ 7, từ ngày 26 – 28/10/1999, tại Kuala Lumpur, thủ đô Malaysia. Dự kiến sẽ có tới 300 đơn vị của 30 nước trong khu vực tham gia triển lãm sản phẩm.
Cũng như những Hội chợ Du lịch khen thưởng quy mô lớn trước đây ở Chicago – Mỹ (MICE), ở Thụy Sĩ (EIBTM), IT & CMA là một Hội chợ Du lịch khen thưởng lớn nhất Á Châu, và chỉ có tổ chức một năm một lần mà thôi. Các lợi ích do Hội chợ IT & CMA mang đến:
1 -Tập trung các thị trường ở châu Á
2 -Việc bán tour triển vọng sẽ có số khách hàng rất đông, bởi phần lớn họ đi theo đoàn từ con số chục đến con số trăm
3 -Những tour bán được ở IT & CMA không chỉ đem lại quyền lợi cho ngành dịch vụ khách sạn, cho tham quan, mà còn có ý nghĩa giải trí
4 -Không chỉ dành riêng cho các công ty lữ hành, mà trực tiếp các Công ty thương mại lớn cũng tham gia, sẽ rất có lợi cho người tiếp thị
5 -Phía khách hàng Việt Nam, không chỉ giới hạn ở lĩnh vực lữ hành mà còn bao gồm một số lĩnh vực khác nữa như khách sạn, đoàn xe, thủ công mỹ nghệ, giải trí….
6 -IT & CMA sẽ được tổ chức tại một khách sạn 6 sao ở thủ đô Kuala Lumpur (Malaysia)
7 -Thông thường thì Hội chợ là sự gặp mặt tại chỗ giữa các đối tác không hẹn trước. Nhưng lần này IT & CMA sẽ sắp xếp cho các đối tác về những cuộc hẹn có chuẩn bị để đảm bảo cho cuộc gặp gỡ “ăn khớp” và hoàn hảo..
Với trình độ nghiệp vụ du lịch và cơ sở hạ tầng….được nâng lên ở nước ta, đây là một cơ hội rất tốt để Việt Nam tham gia và tìm thấy nhiều kinh nghiệm tốt ở tổ chức Hội chợ chuyên nghiệp này với những khách hàng có trình độ cao và có số lượng khách lớn.
M.L.H – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Dự án Cầu Bãi Cháy “nhìn từ góc độ thẩm mỹ và du lịch”

Công trình văn hóa trên nền di sản văn hóa thế giới
Dẫu rằng dự án Cầu Bãi Cháy đang trong giai đoạn chuẩn bị khởi công, nhưng đã thu hút sự quan tâm của nhiều người trong nước và ngoài nước. Đến nay dự án đã qua bước nghiên cứu tiền khả thi. Đã có báo cáo nghiên cứu khả thi đến Hội đồng thẩm định cấp Nhà nước và nhiều Hội nghị chuyên đề nhằm tìm thêm giải pháp tối ưu. Ngay từ Hội nghị thẩm định Nhà nước và các dự án đầu tư tổ chức tháng 6/1998 đã có ý kiến đề nghị đổi tên thành Cầu Hạ Long nhưng chưa được chấp thuận.
Cầu Bãi Cháy trong tương lai sẽ bắc qua Cửa Lục, nằm khoảng giữa của Quốc lộ 18A, tính từ Nội Bài đến Bắc Luận. Cầu được nối liền hai mỏm đồi Bãi Cháy và Hòn Gai thay cho việc chạy phà. Công trình này trong tương lai sẽ là một phần chủ yếu của quy hoạch tổng thể thành phố Hạ Long và tỉnh Quảng Ninh trong vùng tam giác kinh tế phía Bắc.
Phạm vi của dự án gồm phần đường và cầu. Điểm đầu của đường vào cầu phía Bãi Cháy là ngã ba vào cảng Cái Lân. Tổng chiều dài đường vào cầu khoảng 5.500m và cầu chính dài 800m. Nhìn từ góc độ thẩm mỹ, dự án Cầu Bãi Cháy có 5 điểm nhìn chủ yếu: điểm nhìn từ Vịnh Hạ Long của dân cư và khách du lịch lớn và mang tính chuyển động. Các điểm của dân cư thành phố với số lượng lớn và mang tính thường xuyên, ấy là chưa kể đến các điểm nhìn của người sử dụng, người đi bộ gọi chung là nhìn từ bên trong trên đường và cầu. Rồi đến các điểm nhìn từ phía tây – nam đảo Sa Tô….v.v. Chả bao lâu nữa chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng một cây cầu dây văng bê tổng dự ứng lực hiện đại ở nước ta với các đặc trưng: kết cấu đơn giản và rõ ràng, tháp đơn và một mặt phẳng dây cáp kiểu bán hướng tâm. Dầm, tháp và trụ được nối cứng bỏ qua gối và khe biến dạng. Sáu nhịp liên tục, dầm một hộp với thanh giằng thép trong đó có một nhịp chính thông thuyền 435m cho tàu hàng 40.000 DW và tàu công ten nơ 70.000 DWJ ra vào cảng Cái Lân an toàn thuận tiện.
Bà Takenouchi, chuyên gia của Viện cầu và kết cấu Nhật Bản nói trong Hội nghị chuyên đề kỹ thuật giới thiệu công nghệ thi công cầu và xây dựng Cầu Bãi Cháy tổ chức tại Hà Nội ngày 24/7 vừa qua: “Bởi nó còn là một công trình văn hóa trên nền một di sản văn hóa thế giới”.
Tạo thêm đường nét và sắc màu
Có lẽ cũng vì tầm quan trọng của một công trình trên cảnh quan di sản văn hóa thế giới nên ngay từ khâu thiết kế, các chuyên gia đã phải tính đến thẩm mỹ của từng chi tiết trên nguyên tắc: hình dáng, kết cấu với tỷ lệ cân bằng, cân đối. Hình dáng sắc nét, đều đặn thanh mảnh. Tính thẩm mỹ của công trình còn dựa trên nguyên tắc hài hòa giữa hình dáng và màu sắc với cảnh quan nhạy cảm của khu vực Hạ Long – một điểm du lịch. Nhìn vào mô hình Cầu Bãi Cháy trong tương lai ta thấy ngay độ tương quan quả là sang trọng, tác động lên 5 giác quan một cách vừa phải, hoàn thiện.
Xin dẫn ra đây motip thiết kế và phát triển hình dạng cột và tháp. Nhiều chuyên gia đã nghiêng về phương án 2 trên cơ sở bát giác bổ sung thêm các mặt cung lõm, nhấn mạnh các trục đứng, khí động và các hình ảnh dịu trên nguyên tắc đơn giản thanh mảnh và sang trọng và làm dịu ánh sáng hắt từ bê tông.
Ở chủ đề màu của công trình cũng được các nhà thiết kế quan tâm để màu sắc hài hòa giữa các cấu kiện kết cấu với nhau và giữa kết cấu cảnh quan như: bê tông và màu tương phản với màu cửa nó đó là màu được bổ sung, tạo điểm nhấn gây ấn tượng.
Trong chủ đề màu, các nhà thiết kế cũng đã tính đến độ chiếu sáng ban đêm để tăng độ hấp dẫn đối với khách tham quan dân cư cũng như người sử dụng theo một chương trình chiếu sáng ngày thường, ngày nghỉ, cuối tuần, lễ, kỷ niệm và các sự kiện trọng đại của địa phương, đất nước.
Nếu như ban ngày dưới anh nắng mặt trời doi vào quần thể công trình Cầu Bãi Cháy được đặt từ tây sang đông tại khoảng vĩ độ 20o bắc, khi mặt trời lên cao tại hạ chí tuyến thì nhìn từ phía Bãi Cháy sẽ thấy sự tương phản nổi bật giữa ánh sáng và bóng hình dáng công trình hiện lên rõ ràng giữa nền trời xanh và lòng Cửa Lục xanh.
Đêm ư ? Với hệ thống đèn đường trong chức năng đảm bảo an toàn giao thông cho cả xe cơ giới và người đi bộ còn có một hệ thống đèn trang trí đủ màu sắc được bật những giờ cố định – Ấy là chưa kể đến các đèn tín hiệu cho tàu và máy bay. Tất cả nhằm tăng độ hấp dẫn đối với khách tham quan được thưởng thức một gam màu say lòng đến nghiện ngập mà phải tìm đến Hạ Long.
Quang Liêm – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Những hoạt động thiết thực khẳng định vai trò của tổ chức chính trị trong sự nghiệp phát triển ngành du lịch – Phần 2

Công đoàn đã phát huy vai trò trong việc kiểm tra, giám sát và thực hiện chính sách đối với người lao động, những quyền lợi chính đáng của công đoàn viên đều được công đoàn tham gia giải quyết có lý, có tình. Đời sống vật chất, tinh thần của các công đoàn viên được quan tâm. Mặc dù có nhiều khó khăn, công đoàn đã duy trì tốt việc tổ chức cho các công đoàn viên đi nghỉ mát trong dịp hè, có phần thưởng khuyến khích, động viên các cháu đạt thành tích học tập tốt, có quà cho các cháu thiếu nhi nhân ngày 1/6 và dịp tết Trung thu. Việc thăm hỏi động viên công đoàn viên và gia đình lúc ốm đau, gặp khó khăn được công đoàn duy trì thường xuyên. Đây là nguồn động viên rất lớn đối với mỗi công đoàn viên.
Góp phần nâng cao trình độ cán bộ, viên chức, công đoàn đã động viên, khuyến khích mọi người tham gia các lớp bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học, quản lý hành chính….ở trong và ngoài nước. Năm qua, có 60 người theo học các lớp tiếng Anh, tiếng Nhật, 50 người tham gia lớp bồi dưỡng nghiệp vụ ngoại giao, lễ tân; 3 người học lớp sau đại học; 3 cán bộ bồi dưỡng dài hạn về chính trị; 20 người học quản lý hành chính Nhà nước đợt 2; 17 người học nghiệp vụ ở Singapore, Thái Lan, Bỉ, Trung Quốc….kết thúc khóa học, nhiều người thi đạt kết quả cao được trường xét thưởng.
Hướng tới chào mừng những ngày kỷ niệm của công đoàn trong năm nay, các hoạt động thể thao, văn hóa đã được tổ chức. Vừa qua, công đoàn đã tổ chức thi đấu bóng bàn, cờ vua, vật tay, cắm hoa, ca hát thu hút được 100% công đoàn viên tham gia, từ lãnh đạo Tổng cục tới cán bộ, nhân viên các bộ phận. Các phong trào đó thực sự gây không khí sôi nổi, phấn khởi, đoàn kết trong cơ quan.
Với tinh thần “lá lành đùm lá rách”, công đoàn cơ quan Tổng cục đã thường xuyên, rất tích cực và kịp thời tham gia hưởng ứng các hoạt động xã hội. Đã động viên được 100% công đoàn viên tham gia một cách tự nguyện, thể hiện thái độ đồng cam, cộng khổ với những người, những tỉnh gặp khó khăn, hoạn nạn. Ngoài ra, công đoàn vẫn duy trì việc quyên góp, phụng dưỡng một Bà mẹ Việt Nam Anh hùng quê ở Quảng Nam với mức 200.00 đồng mỗi tháng.
Tổ chức công đoàn được củng cố và ổn định thông qua các đại hội theo nhiệm kỳ. Ban chấp hành công đoàn đã duy trì tốt chế độ họp định kỳ để kiểm điểm đánh giá, rút kinh nghiệm những việc đã triển khai cũng như bàn những biện pháp cụ thể để thực hiện những công việc tiếp theo. Công tác phát triển đoàn viên công đoàn cũng là một trong số những công tác được duy trì thường xuyên. Những cán bộ mới về công tác được các chủ tịch công đoàn bộ phận hướng dẫn nghiên cứu tìm hiểu Điều lệ công đoàn, nếu thấy đủ điều kiện và có nguyện vọng thì làm đơn để trình Ban chấp hành công đoàn xét duyệt và cấp thẻ. Đến nay 100% công đoàn viên đều đã được nhận thẻ.
Đó là những hoạt động mà công đoàn cơ quan Tổng cục Du lịch đã và sẽ tiếp tục triển khai thực hiện, góp thành tích chào mừng các ngày kỷ niệm lớn trong hệ thống công đoàn.
Mai Phương – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Những hoạt động thiết thực khẳng định vai trò của tổ chức chính trị trong sự nghiệp phát triển ngành du lịch – Phần 1

-Công đoàn cơ quan Tổng cục Du lịch và những hoạt động bám sát nhiệm vụ chính trị của ngành
-Công đoàn Công ty Du lịch Tây Ninh xây dựng phong trào vững mạnh toàn diện
Hướng tới kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 đến 28/7/1999), kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Công đoàn Thương mại – Du lịch Việt Nam (19/11/1959 – 19/11/1999), thời gian qua công đoàn cơ quan Tổng cục Du lịch đã tổ chức được nhiều hoạt động thiết thực, phù hợp với tình hình thực tiễn của một đơn vị hành chính sự nghiệp, góp phần tích cực vào việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của cơ quan. Qua các hoạt động thực tế đó, khẳng định rõ hơn vai trò của công đoàn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước.
Vừa qua, công đoàn cơ quan Tổng cục Du lịch đã phát động phong trào thi đua với các nội dung cụ thể là:
-Mỗi đoàn viên công đoàn cần đề cao tinh thần trách nhiệm, phát huy tinh thần chủ động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, không nề hà khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao với chất lượng và hiệu quả cao nhằm hoàn thành chương trình công tác của Tổng cục, thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch đề ra trong năm. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải tiến lề lối làm việc, giải quyết nhanh chóng, kịp thời công việc của cơ quan và đơn vị cơ sở.
-Thực hiện nghiêm chỉnh các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, trước mắt cần triệt để chấp hành Pháp lệnh công chức, viên chức, Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, Pháp lệnh chống tham những, lập lại trật tự và làm trong sạch bộ máy cơ quan Nhà nước.
-Các công đoàn viên tích cực tham gia xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh; đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, sai trái, thiếu dân chủ trong cơ quan, đơn vị; tham gia các hoạt động xã hội, hưởng ứng các phong trào bảo vệ môi trường, phong trào đền ơn, đáp nghĩa….
Trong buổi lễ phát động thi đua, các công đoàn bộ phận đã cử đại diện lên giao ước thi đua. Tổng kết phong trào, nhiều tập thể và cá nhân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, được đề nghị công đoàn ngành Thương mại – Du lịch và công đoàn cơ quan Tổng cục Du lịch khen thưởng.
Công tác nữ được đặc biệt quan tâm. Vào những ngày kỷ niệm 8/3, 20/10, công đoàn đều tổ chức họp để tổ chức nhắc lại truyền thống dũng cảm, đảm đang của phụ nữ Việt Nam, nhắc lại phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, tổ chức đi tham quan các điểm du lịch, di tích lịch sử, như di tích đền Cổ Loa, đền Hùng, Côn Sơn – Kiếp Bạc….Vừa qua, công đoàn cũng đã tổ chức các buổi sinh hoạt theo chuyên đề về vai trò của phụ nữ trong ngành du lịch, về trách nhiệm của phụ nữ trong việc nuôi dạy con cái, bảo vệ hạnh phúc gia đình…Để làm phong phú thêm đời sống tinh thần cho chị em, công đoàn cũng đã tổ chức cho chị em nghe về thơ tình của các nữ thi sỹ, tổ chức cho chị em học cách cắm hoa nghệ thuật để làm đẹp thêm cuộc sống gia đình, được chị em nhiệt tình hưởng ứng. Trong đợt tổng kết phong trào thi đua công tác nữ, công đoàn đã khẳng định vai trò, thành tích của chị em trong công tác, học tập và trong các hoạt động xã hội. Kết quả: có 28 chị lao động giỏi cấp Tổng cục Du lịch, 4 chị được Đảng ủy khối cơ quan kinh tế Trung ương khen, 3 chị được đề nghị Công đoàn ngành Thương mại – Du lịch khen.
Mai Phương – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Về vụ mua bán trẻ em ở Ninh Bình “những điều còn chưa biết” – Phần 2

Trong đơn tố giác những việc làm sai trái của ông Luật, nguyên thiếu tá công an, anh Nguyễn Hữu Hoàng viết: “Có người đến chơi nhà ông Luật về nói: “Giám đốc Tư pháp ăn chơi khác kiểu !”. Có người ví như “địa chủ”, trẻ con gần nhà ông Luật thì bảo: “Làm Giám đốc Sở Tư pháp sướng dã man”…. Vì vậy có thông tin hiện nay ông Luật vẫn còn cỡ 2 tỷ đang được gửi ở các ngân hàng. Riêng dân quê ông Luật mỗi khi có ai hỏi thăm ông ta thì bảo: “Gọi ông ta là Phạm Pháp Luật thì đúng hơn !”.
Người thứ ba tham gia vào đường dây mua bán trẻ con cũng giàu rất nhanh là ông Minh, chuyên viên phòng nội chính của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình. Vợ là giáo viên, nuôi 2 con. Bản thân ông Minh vốn là cán bộ cấp huyện, lúc tách tỉnh được cất nhắc lên tỉnh làm nghề chỉ chuyên trình các giấy tờ để các đồng chí lãnh đạo ký và hưởng lương theo khung bậc của Nhà nước. Vậy mà chỉ hơn một năm tham gia vào đường dây mua bán trẻ con, năm 1996, ông Minh đã xây nhà 3 tầng, to nhất khu phố mới.
….Từ những biểu hiện kinh tế giàu nhanh bất minh của một số cán bộ trong và ngoài Sở Tư pháp Ninh Bình như vậy đã khiến ông Trịnh Kim Trừ (nguyên Chánh thanh tra tỉnh Ninh Bình) đặt câu hỏi và bỏ công sức đi tìm hiểu. Sau khi phát hiện ra “Trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi Tam Điệp” và một số trung tâm, nhà tư khác chuyên thu gom, nuôi trẻ mồ côi, ”Trung tâm thu gom trẻ mồ côi ở phường Phúc Thành”, ông Trịnh Kim Trừ đã làm đơn tố giác ngay. Vì vậy, vụ án này được đem ra khởi tố ngày 28/11/1998, nhưng nó lại được giữ kín, xử mang tính chất nội bộ, một số các cơ quan thông tin đại chúng ở Trung ương khi nghe tin về cũng không được cung cấp tài liệu.
Anh Phạm Minh Ái, trong đơn giải trình những hành vi mà ông Luật vu gán ghép cho mình, ở phần cuối đơn, anh đã thống thiết viết: “Với tư cách là Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, một chấp hành viên, tôi tha thiết đề nghị các cơ quan bảo vệ pháp luật cần kiểm tra làm rõ tất cả để kết luận chính xác, có hình thức xử lý (ông Luật) thích đáng để cứu lấy ngành Tư pháp Ninh Bình !”.
Khi chúng tôi đang ngồi viết bài phóng sự điều tra này thì anh Phạm Minh Ái từ Ninh Bình vội ra cho biết: “Các cơ quan pháp luật đã ra quyết định thu hồi được hơn 100 triệu số tiền kiếm được từ “vụ mua bán gần 371 trẻ em ở Ninh Bình mà được sự chỉ đạo của ông Luật, ông Mạnh đã đem chia cho một số người trong Sở Tư pháp”.
Điều đáng nói cuối cùng trong vụ buôn bán trẻ em, làm hồ sơ giả để trục lợi cá nhân của ông Luật, ông Mạnh và tay chân kể từ ngày tổ chức bàn giao trẻ em cho những người nước ngoài, những ông này không hề nắm được thông tin về mấy trăm đứa trẻ bị bán đó, không biết chúng khỏe mạnh hay ốm đau, hay đã chết. Nhiều người đang đặt câu hỏi: “Nhỡ những đứa trẻ này được xin nuôi để sau này họ mổ lấy phủ tạng bán thì sao ?”
Giang Thạch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999