Những bước tiến của du lịch Trung Quốc

Theo thống kê, số du khách nước ngoài đến Trung Quốc năm 1986 vào khoảng 21 triệu người thì đến năm 1988 đã tăng lên 31,7 triệu người, trung bình mỗi năm tăng trên 20%. Bước vào những năm 1990, số lượng này càng tăng mạnh: 1991: 33,35 triệu; 1992: 38,11 triệu trong đó du khách nước ngoài trên 4 triệu, Hoa kiều ở các nước: 1,65 triệu, dân Trung Quốc ở Hồng Kông Macao: 32,6 triệu, ở Đài Loan: 1,3 triệu.
Từ ngày thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa tới nay, ngành du lịch Trung Quốc đều do nhà nước kinh doanh. Cục Du lịch quốc gia Trung Quốc thống nhất đảm trách việc quy hoạch tổng thể, hoạch định và quản lý các chính sách du lịch. Dưới Cục Du lịch có 4 đơn vị quốc doanh lớn của ngành du lịch là Quốc tế lữ hành xã chuyên trách việc đón tiếp du khách nước ngoài, sau đó là Trung Quốc lữ hành xã, Hoa kiều ở nước ngoài và dân Trung Quốc ở Hồng Kông, Macao, Đài Loan về thăm thân, tham quan, du lịch. Bốn đơn vị kinh doanh lớn này đều có Tổng bộ ở Bắc Kinh và các chi nhánh ở các tỉnh, thành phố và khu tự trị, hình thành một mạng lưới rộng lớn đón tiếp du khách trong toàn quốc.
Những năm gần đây, ngành du lịch Trung Quốc cũng tiến hành cải cách thể chế quản lý: đã chuyển 4 đơn vị kinh doanh du lịch lớn nói trên thành những thực thể kinh tế độc lập tự chủ kinh doanh, tự chịu trách nhiệm lỗ lãi. Đồng thời cũng đã tạo điều kiện pháp lý để các đơn vị kinh doanh du lịch khác ra đời, kể cả các đơn vị kinh doanh du lịch dân lập (gọi là các lữ hành xã dân gian). Vì vậy tới nay trong toàn quốc, Trung Quốc đã có tới 1500 đơn vị kinh doanh du lịch. Sau khi thể chế quản lý trói buộc, cứng nhắc bị bãi bỏ, ngành du lịch Trung Quốc trở nên dồi dào sức sống.
Ăn, ở, đi lại là 3 vấn đề cơ bản nhất của ngành du lịch từ trước tới nay, về các mặt này, Trung Quốc tương đối lạc hậu. Mười mấy năm gần đây, Trung Quốc đã xây dựng một loạt khách sạn cấp cao ở các thành phố lớn, các tỉnh và khu tự trị và các khu du lịch nổi tiếng. Chỉ tính riêng ở Bắc Kinh, đã có khoảng 30 khách sạn loại này; về trình độ hiện đại hoá, một số đã đạt loại 1 theo tiêu cuẩn quốc tế. Ngoài các khách sạn lớn này, nhiều tỉnh, thành còn xây dựng những khách sạn theo kiến trúc dân tốc và in đậm những nét riêng của địa phương mình: Thiểm Tây có khách sạn trong hang động, Nội Mông có khách sạn lều bạt, Vân Nam có khách sạn nhà sàn tre gỗ… Hiện nay, số khách sạn thuộc loại cấp cao mới chiếm 10%, cấp trung bình 40% và cấp thấp 50%.
Sau khi cải cách mở cửa, Chính phủ Trung Quốc cũng như Uỷ ban nhân dân các địa phương đã thực hiện có trọng điểm việc tôn tạo, xây dựng và mở mang những điểm và tuyến du lịch mới như tuyến du lịch Lệ Sơn – Thiểm Tây (có quần thể tượng gốm binh sĩ Tần Thuỷ Hoàng); tuyến bán đảo Sơn Đông, khi Viên Minh viên ở Bắc Kinh, Hoàng Hạc Lâu ở Vũ Hán và các tuyến “du lịch thảo nguyen”, “du lịch theo con đường tơ lụa Á – u thời xưa”… Trong “năm du lịch Hữu nghị 1992”, Trung Quốc đã chuẩn bị 40 điểm du lịch cấp quốc gia, 14 tuyến du lịch chuyên đề, còn ở các địa phương thì có tới trên 100 nội dung hoạt động du lịch và lễ hội dân gian.
Để thoả mãn nhu cầu của du khách, du lịch Trung Quốc đã tăng cường quản lý dịch vụ du lịch. Nhân viên phục vụ ở các đơn vị lữ hành và các khách sạn đều phải trải qua đào tạo chính quy, bài bản. Trung Quốc có hơn 200 trường trung cấp chuyên ngành du lịch, 20 trường đại học có mở khoa Du lịch hoặc ngành quản lý du lịch. Ngoài ra, Trung Quốc cũng cử nhiều cán bộ, sinh viên ra nước ngoài tham gia, học tập những kinh nghiệm tiên tiến trong quản lý du lịch.
Việc đi lại của du khách trong thời gian ở thăm Trung Quốc những năm gần đây cũng được cải thiện rõ nét. Hiện nay, ở những thành phố lớn và những thành phố cỡ vừa nhưng quan trọng của Trung Quốc, du khách đều có thể đến bằng máy bay, còn các thành phố khác thì đều có tầu hoả hoăc xe buýt công cộng hoặc xe buýt của ngành du lịch. Tóm lại, du khách muốn tới đâu đều có phương tiện giao thông để đi tới đó.
Trong mười năm gần đây tốc độ phát triển của ngành du lịch Trung Quốc tương đối nhanh: năm 1988, ngoại tệ thu về là 10,5 tỷ USD, năm 1991 tăng lên, đạt tới 28,4 tỷ USD và năm 1992 đạt 39,5 tỷ USD, gấp 15,2 lần so với năm 1978, năm đầu của cải cách, mở cửa. Nếu xếp thứ hạng theo thu nhập ngoại tệ do ngành du lịch đưa về thì năm 1978, Trung Quốc đứng thứ 41 trên thế giới nhung đến năm 1992 đã nhảy vọt lên thứ 18. Dự kiến, cuối thế kỷ này, số ngoại tệ do ngành du lịch mang lại cho Trung Quốc có thể đạt tới 100 tỷ USD.
Với công cuộc cải cách, mở cửa ngày càng tiếp tục mở rộng, với tốc độ phát triển kinh tế cao, khoảng cách giữa Trung Quốc và các nước tiên tiến trên thế giới về mặt phát triển du lịch sẽ ngày càng thu hẹp và Trung Quốc chắc chắn sẽ trở thành một cường quốc du lịch.
Hữu Nghị – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Khu Văn hóa Du lịch Bình An – Sóc Trăng và người nữ giám đốc Diệu Hiền

Khu Văn hóa Du lịch Bình An tỉnh Sóc Trăng là đơn vị thuộc doanh nghiệp tư nhân Diệu Hiền sáng lập thời gian gần đây và đưa vào hoạt động cuối quý 4 năm ngoái. Hiện nay Khu Văn hóa Du lịch Bình An đã thực sự chiếm cho mình một chỗ đứng khá vững chắc, cụ thể thời gian qua khu du lịch không những tiếp nhận khách ở địa phương đến tham quan mà kể cả khách tỉnh bạn đã thường xuyên ghé đến. Chúng tôi đã có cuộc gặp gỡ và trao đổi cùng chị Phạm Thị Diệu Hiền, Giám đốc Khu du lịch Bình An – Sóc Trăng về những định hướng cũng như sự phát triển của khu du lịch hướng tới.
Chào chị: Chị có thể cho biết đôi nét về quá trình hình thành của Khu Văn hóa Du lịch Bình An và động lực nào dẫn đến sự ra đời của nó ?
-Rất hân hạnh được anh ghé thăm và quan tâm đến. Về việc gọi là giới thiệu Khu Văn hóa Du lịch Bình An này thật lòng mà nói, khu du lịch chỉ ở thời điểm tân binh, hơn nữa sản phẩm dịch vụ du lịch thuộc hàng em út. Nên bản thân chỉ dám báo cáo còn giới thiệu….chắc không dám.
Khu Văn hóa Du lịch Bình An nguyên trạng trước đây là khu đất trống, nói rõ hơn chất đất cải tạo nông nghiệp không đạt canh tác cao. Tuy nhiên về vị trí rất thuận lợi trong giao thông bởi được tiếp giáp Quốc lộ 1A và cách trung tâm thị xã khoảng 3km, tóm lại trong nội hạt khu du lịch thuộc vùng ven ô nên thành lập du lịch rất lý tưởng. Riêng với các du khách ở xa các tỉnh rất thuận đường và dễ gây sự chú ý. Theo bản thân tôi ngoài những lợi thế trên, điều đáng ghi nhận hơn hết là hiện nay đất nước đang trên đà xây dựng phát triển qui mô du lịch “Điểm đến thiên niên kỷ mới”. Sự ra đời của Khu Văn hóa Du lịch Bình An nhất thiết không chỉ ở sự kinh doanh đơn thuần qua thời vụ mà còn mang ý nghĩa hết sức sâu sắc trong sự nghiệp chung góp phần xây dựng phát triển kinh tế đất nước hơn nữa đối với tỉnh nhà trong góc độ suy tưởng của cá nhân, xây dựng Khu Văn hóa Du lịch Bình An trên tinh thần được xác định qua 3 ý chính.
Tạo điều kiện công ăn việc làm cho người địa phương.
Góp một phần nhỏ mỹ quan cho tỉnh Sóc Trăng thêm phần sinh động tươi thắm của phố thị.
Là một trong những điểm hẹn dừng chân, tiêu biểu của Sóc Trăng, có được một nơi vui chơi lành mạnh trong giải trí cũng như tham quan, đặc biệt nơi đây cũng là một cầu nối giao lưu cho khách đến tìm hiểu Sóc Trăng trên nhiều lĩnh vực….
Hiện nay khu đã thể hiện những sản phẩm gì trong dịch vụ du lịch để thu hút khách, thưa chị ?
Thành lập một khu du lịch trong kinh phí đầu tư cá nhân, trong phạm vi có hạn “vốn tự có”, tuy có chiều sâu phát triển mạnh do đó trước mắt bước đầu ngoài tạo cho khuôn viên toàn khu 4 mùa hoa cảnh xanh mướt, một nhà hàng 700 ghế phục vụ ẩm thực bên cạnh đó, là nhà hát giã ngoại và các dịch vụ giải trí khác như: xe điện đụng, đoàn tàu tự hành, đu quay ngựa, nhà banh, mô tô đua, tàu bay thủy lực, thiên nga thuyền v.v… Hiện khu đang xây dựng khu giã sơn cao khoảng trên 20m và trên đỉnh là dãy “Vila” khách sạn tiêu chuẩn quốc tế 12 phòng, dự kiến hoàn công đầu quý IV năm nay.
Chị cho biết thêm vì sao cho tạc đôi tượng cùng hình ảnh Trưng Trắc – Trưng Nhị đang cưỡi voi oai phong lẫm liệt – tọa lạc ngay thành cổng vào khu du lịch ?
Chị Phạm Thị Diệu hiền:
Mỗi khu du lịch đều có nét riêng của nó nhưng nếu nói theo ý tưởng chắc anh cũng rõ bản thân mình là phụ nữ Việt Nam ít ra trong lòng cũng có một cái gì để mình tôn thờ và học hỏi…
Tôi xiết nhẹ tay cảm ơn chị Diệu Hiền và rất mong sao Khu Văn hóa Du lịch Bình An sẽ là một địa chỉ lý tưởng và thu hút khách trong và ngoài nước đến tham quan.
P.V – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Gặp các Cô Đầm ở xứ ta – Phần 2

Còn trường hợp của Orit thì sao?
Lúc bấy giờ ở Israel có lệnh tổng động viên, chúng tôi vào Quân đội. Sau sáu tháng ở quân trường, tôi được đi học một lớp thông tin liên lạc rồi được điều động về đại đội thông tin hữu tuyến của sư đoàn.
Tôi cười:
Cánh lính chiến chúng tôi thường gọi lính thông tin là lính chữ Thọ đấy Orit ạ.
Orit lắc đầu:
Chiến tranh hiện đại không có hậu phương, bất cứ lúc nào tên lửa tầm xa của đối phương cũng có thể rơi vào căn cứ của chúng tôi. Mỗi khi nghe còi báo động, chúng tôi phải đeo ngay mặt nạ chống độc, thao tác đã vất vả lại còn khó thở nữa. May mắn làm sao, hầu hết tên lửa Scout bay đến đều bị tên lửa đất đối không của Israel “Vô hiệu hóa” ngay trên quỹ đạo bay.
Thấy cô gái Israel đang say sưa chuyện sung ống, tôi vội lái dần sang chuyện khác:
Sau khi giải ngũ Orit sang ngay Việt Nam?
Orit giơ hai ngón tay ra trước mặt:
Tôi đi làm tiếp viên ở khách sạn 2 năm…
rồi Orit giơ tiếp bốn ngón tay:
… tôi để dành được 4.000 dollars chi cho chuyến đi này.
Tôi hỏi tiếp:
Tại sao Orit không đi máy bay mà lại đi xe lửa?
Orit trả lời:
Ở Israel, ngành đường sắt chỉ có hai tuyến đường: Tel Aviv đi Haifa 101 kilômét lên phía bắc và từ thủ đô Tel Aviv đi Gaza xuống phía nam dài 98 kilômét. Xe lửa Israel chạy với tốc độ 150 kilômét một giờ nên tôi lên tàu được một lúc đã đến ga rồi. Còn tàu ở Việt Nam, tuyến Sài Gòn (tôi nhắc Orit: Hochiminh City) vâng Thành phố Hồ Chí Minh – Hà Nội dài những 1.800 kilômét, với tốc độ này tôi tha hồ ngắm phong cảnh dọc đường.
Tôi hỏi Orit:
Sau khi đến Hà Nội Orit còn đi thăm những nơi nào nữa?
Orit móc túi ngực lấy cuốn sổ tay ra đọc:
Một là Vịnh Hạ Long, hai là Huế, ông chỉ dẫn giúp tôi nên đi những nơi nào nữa.
Tôi ghi một số danh lam thắng cảnh vào từng trang kèm lời chỉ dẫn lộ trình rồi đưa trả lại cuốn sổ tay cho Orit:
Orit lưu ý Bích Động đã xuất hiện trên cảnh đầu trong phim I‘Indochine của đạo diễn Régis Wargnier. Orit đã xem I’Indochine chưa?
Orit ngẩng đầu nhìn tôi.
Sao ở nước tôi các nhà báo lại nói phim I’Indochine quay tại Vịnh Hạ Long.
Tôi cười:
Từ Bích Động đến Vịnh Hạ Long những 200 kilômét. Bích Động có một số cảnh rất giống Vịnh Hạ Long nên chúng tôi còn gọi Bích Động là Hạ Long trên cạn. Chuyến này về Israel, Orit viết ngay một bài báo đạo diễn Régis Wargnier đã quay cảnh đầu của I’Indochine trên cả Hạ Long thuộc Vịnh Bắc Bộ lẫn Hạ Long trên cạn, chắc chắn các nhà báo phải ngả mũ chào.
Orit cười:
Xin cảm ơn.
Anh bạn tôi hỏi Orit:
Xin lỗi Orit, tại sao Orit không rủ một bạn trai đi cùng trong chuyến du lịch vạn dặm này?
Nếu tôi rủ bạn trai tôi đi, làm sao tôi có thể ngồi nói chuyện lâu với các bạn Việt Nam thế này được. Chắc chắn anh ấy sẽ vỗ vai tôi: Orit lên toa đi, tàu sắp chạy rồi đấy.
Vũ Bão – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Gặp các Cô Đầm ở xứ ta – Phần 1

Ra khỏi Bộ Văn hóa – Thông tin với hai bàn tay trắng, để giữ danh dự cho những người cầm bút, tôi nhất quyết không chịu đi chạy một bàn xổ số hay đi xí một điểm bơm xe làm mũi nhọn trong cuộc xóa đói giảm nghèo bù đắp chỗ thiếu hụt trong đồng lương hưu còm còn bỏ ngỏ; sẵn cây bút trong tay tôi nhảy tàu Bắc Nam nhập hộ tịch dân nhà tàu. Trong những chuyến đi xuôi về ngược ấy, nhiều chuyện vui buồn đã ập đến với tôi, nhiều con người đã đi qua đời tôi. Bây giờ dừng chân trong ngõ hẹp, trước khi chợp mắt tôi vẫn thấy từng khuôn mặt hiện lên với bao kỷ niệm khó quên.
Cô gái Israel
Tôi lại gặp Orit, cô gái người Israel trên một chuyến tàu Bắc – Nam. Đoàn tàu dừng bánh ở ga đón khách, lấy nước. Mười phút, hai mươi phút… đoàn tàu vẫn chưa chuyển bánh. Một giờ… hai giờ, thì ra ở ga phía trước, một đoàn tàu đã bị trật bánh. Chúng tôi lần lượt nhảy xuống sân ga tìm một quản giải khát. Một anh bạn tôi mời Orit uống cà phê, lúc đứng dậy, Orit bỏ tiền ra trả cốc cà phê của mình. Anh bạn tôi thân ái phê bình Orit: ở Việt Nam chủ nhà bao giờ cũng là người trả tiền. Orit trả tiền như thế là chưa hữu nghị đấy. Orit cười: ở Israel, cùng vào tiệm với nhau, ai dùng suất nào trả tiền suất ấy. Các anh không cho Orit trả tiền suất của mình cũng là chưa hữu nghị đấy.
Anh bạn tôi hỏi:
Xin lỗi nhé, tại sao Orit lại thích sang Việt Nam?
Orit quay sang nhìn anh bạn tôi:
Tôi đã xem một bộ phim của các nhà điện ảnh Mỹ làm về cuộc chiến tranh ở Việt Nam như Trung đội, Đồi thịt băm, Ngày tận thế, Chào Sài Gòn, Sinh vào ngày 4 tháng 7… và phong cảnh Việt Nam đã quyến rũ tôi. Những bộ phim đó được sáng tác dưới con mắt của người Mỹ, còn tôi, tôi lại muốn nhìn Việt Nam bằng đôi mắt của tôi.
Tôi hỏi Orit:
Những ngày ở Việt Nam Orit đã thấy những gì?
Orit khoát tay về phía hàng dừa trên sân ga:
Màu xanh bát ngát, thiên đường xanh ấy đã làm dịu mắt tôi vì tôi sinh ra và lớn lên ở một vùng chỉ có đồi cát và sa mạc. Tôi thèm từng nhánh cây xanh và ở đây ngày lại ngày tôi được đi dưới nhiều loại trái cây mà Israel không hề có. Tôi không sao nhớ nổi tên những trái cây quyến rũ ấy, nhân dân chúng tôi đã phải gánh chịu cuộc chiến tranh 30 năm.
Orit thở dài:
Dù sao lúc nào các anh vẫn còn có một đất nước còn dân Israel chúng tôi cứ phải sống lang thang trên khắp thế giới hơn một nghìn năm. Mãi đến ngày 15 tháng 5 năm 1946, ông cha chúng tôi mới được trở về mảnh đất cũ của tổ tiên.
Tôi vội lái câu chuyện sang một hướng khác để khỏi phải sa vào vấn đề chính trị phức tạp giữa Israel và Palestine:
Xin lỗi nhé, Orit làm nghề gì. Trông dáng vóc của Orit, tôi đoán Orit phải là một vận động viên.
Orit đặt nhẹ tay lên ngực:
Năm 18 tuổi tôi tham gia Quân đội.
Orit là lính quân dịch hay quân nhân chuyên nghiệp?
Ở Israel con gái cũng như con trai cứ đến 18 tuổi đều phải nhập ngũ. Hai năm sau, khi xuất ngũ chúng tôi ai đi học đại học hay đi học nghề tuỳ ý.
Vũ Bão – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Chân dung lữ khách Kazanzákis: “ Ân nhân của đời tôi là những chuyến đi bất tận”

Nikos Kazanzákis, nhà văn nổi tiếng của Hy Lạp được kể là người có máu giang hồ. Ông đi rất nhiều, từng đến Bắc Phi, Ai Cập, Palestine, Liên Xô (cũ), Thụy Sĩ, Tây Ban Nha, Áo, Đức, Italia, Anh, Pháp,Trung Quốc, Nhật Bản….Năm 1957, trong lần dừng chân ở Đông Đức để đi tiếp Trung Quốc, chẳng may ông bị ốm nặng rồi mất tại bệnh viện ở Frisbourg – en – Brisgau; thi hài được gửi về an táng tại đảo Crète, Hy Lạp – quê hương ông.
Nikos Kazanzákis sinh năm 1883 trong một gia đình nông dân tại Iráklion thuộc đảo Crète, Hy Lạp; năm 1897 Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ nổ ra cuộc chiến trên đảo Crète, gia đình ông phải lánh nạn sang đảo Nexos….Ông là người thông minh từ nhỏ, có tài văn thơ nhưng lại theo học luật, đỗ tiến sĩ tại Athènes, tiếp đó theo học triết tại Paris, khi về nước được giao chức Tổng Giám đốc Bộ xã hội, năm 1945 cất nhắc làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục Hy Lạp. Năm 1947 ông trở lại Pháp phụ trách cơ quan dịch thuật của UNESCO, chịu trách nhiệm dịch những tác phẩm cổ điển giá trị. Là người có thiên hướng viết văn nên ông tìm mọi cách từ giã chính trường và đời sống công sở để dành thì giờ cho sáng tác văn học; số lượng tác phẩm của ông để lại khoảng 30 cuốn, đáng chú ý nhất là Alexis Zorba, 1946; Le Christ Recrucifies (Chúa Jesus bị đóng đinh câu rút), 1954; 33.333 câu thơ viết tiếp cho Anh hùng ca Odyssée của Homère. Những tác phẩm của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng, chuyển thể kịch bản sân khấu, điện ảnh, trình chiếu rộng rãi khắp thế giới. Ngoài ra, ông còn dịch Thần Khúc (la Divine Comédie) của Dante, Faust của Goethe, Zarathustra của Nietzsche…. Năm 1952 nhiều tờ báo phương tây đưa tin ông có tên trong danh sách bình chọn khôi nguyên Nobel Văn chương, nhưng đáng tiếc bị hụt đúng một phiếu thuận !
Kazanzákis là nhà văn có biệt tài khai thác những đề tài xa xưa và cân đã để đối chiếu, xác định đạo lý hiện đại; nhân vật của ông có tính cách mạnh mẽ và sinh động, có lần ông nói: cả tâm hồn tôi là một tiếng thét, trọn tác phẩm của tôi là lời chú giải cho tiếng thét ấy. Kiệt tác Alexis Zorba của ông đã được hãng phim 20 th Century – Fox nổi tiếng của Hollywood dàn dựng công phu, siêu sao Anthong Quinn thủ vai Zorba. Tác phẩm văn học nổi tiếng này khi chào đời đã gây tiếng vang lớn và được giới phê bình văn học u – Mỹ hết sức quan tâm; tạp chí Time Magazine đánh giá là: Nhân vật Zorba xuất hiện khiến cho những nhân vật trong phần lớn tiểu thuyết hiện đại có vẻ như những bóng ma mờ nhạt; Zorba là tất cả những nhân vật (ở những cuốn tiểu thuyết kia) gặp lại và chỉ nói tiếng Hy Lạp.
Ngoài những đóng góp to lớn trên lĩnh vực văn học tiến bộ, Nikos Kazanzákis còn được coi là nhà du lịch tầm cỡ, những sự kiện ấy được ông phản ánh trung thực và đầy đủ trong tập Những chuyến đi viết về những năm 1937, 1957, 1958. Vì là người ham xê dịch, nên ông thường phát ngôn: n nhân lớn nhất trong đời tôi là những chuyến đi bất tận, vì nó đã mở cho tôi tầm nhìn và chắp cho tôi đôi cánh ước mơ….
Trần Xuân – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

7 (M) Bàn về các thành phần của công nghệ du lịch

Năm 1845, ông Thomas Cook đã lập hãng lữ hành đầu tiên tại nước Anh. Ổng tổ chức các chuyến du lịch theo nhóm và thu xếp việc đi lại cho khách. Những chuyến du lịch theo nhóm và thu xếp việc đi lại cho khách. Những chuyến du lịch lý thú, sang trọng ra nước ngoài, có hướng dẫn viên đã thu hút được các khách du lịch giàu có cả ở Anh và Mỹ. Ông đã trang bị cho hãng những trang thiết bị thông tin tiện lợi, cùng các vật dụng phục vụ theo yêu cầu của khách. Đội ngũ nhân viên được huấn luyện kỹ càng. Ông đã không tiếc tiền đầu tư mở rộng hãng. Với sự quản lý tốt, hãng của ông cùng với cái tên Thomas Cook đã được biết đến ở khắp nơi trên thế giới như một hãng lữ hành hiện đại đầu tiên.
Nhà khai thác dầu ở Tezzas, ông Conrad Hilton, sinh năm 1887 ở New Mexico. Năm 1919 ông đi du lịch tới Cisco, bang Texas với ý định mua một ngân hàng. Thay vào ý định ban đầu, ông đã mua một khách sạn nhỏ tên là Mobley. Với khả năng tiếp thị tốt, trong vòng 20 năm. Hilton đã có trong tay những khách sạn nổi tiếng như Town House ở thiết bị hiện đại, nhân viên phục vụ lành nghề và tổ chức quản lý tiên tiến. Với sự thành đạt về tài chính, trong sự cạnh tranh quyết liệt giữa Hilton, Sheraton và Statler, năm 1954 Hilton đã nắm quyền quản lý kinh doanh của tập đoàn khách sạn Statler.
Theodore Arison đã thành lập hãng tàu biển Carrival Cruise Lines năm 1972. Con tàu đầu tiên là Mardi Gras, được cải tạo từ con tàu chạy bằng hơi nước đóng ở Canada từ năm 1961. Để thu hút các cặp vợ chồng trẻ và các gia đình du lịch tàu biển, Arison đã cho thiết kế sòng bạc, phòng chiếu phim, phòng ăn có nhạc sống. Sau khi trang bị lại, thay đổi đội ngũ phục vụ và tổ chức quản lý các chuyến đi, hãng Carrival đã thu được kết quả bất ngờ, lượng khách tăng nhanh.
Tuy ở 3 lĩnh vực khác nhau, song các nhà kinh doanh du lịch thành đạt đều tiến hành công việc theo một công nghệ chung, bao gồm các thành phần kết cấu riêng biệt, có mối quan hệ mật thiết với nhau. Đầu tiên là việc tạo ra được sản phẩm du lịch hấp dẫn và mới. Tiếp theo, là công việc tiếp thị các sản phẩm nhằm vào đúng nhu cầu và thị hiếu của khách và biến nhu cầu thành hiện thực bằng những chương trình hưởng thụ các sản phẩm du lịch. Để có nhiều sản phẩm du lịch và khách du lịch, phải có trang thiết bị và vật tư phù hợp cùng với đội ngũ nhân viên thành thạo. Và đương nhiên phải có nguồn tài chính để đầu tư thực hiện công việc, khâu cuối là việc tổ chức, quản lý và điều hành. Tổ hợp hài hòa các thành phần này trong một tổng thể hoạt động, tạo thành công nghệ du lịch.
Như vậy, các thành phần công nghệ du lịch bao gồm 7 bước chính:
Hình thành sản phẩm du lịch (Making)
Tuyên truyền, quảng bá du lịch (Marketing)
Phương tiện thiết bị phục vụ du lịch (Marchine)
Nguyên vật liệu phục vụ du lịch (Material)
Nguồn nhân lực du lịch (Manpower)
Tài chính đầu tư cho du lịch (Money)
Quản lý du lịch (Maragement)
Đó chính là nội dung của 7 (M).
Kỳ sau: POSE ASPPRIM Bàn về kế hoạch hóa trong du lịch
Đàm Viết Lọc-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Công bố kế hoạch chi tiết cho “Festival Huế 2000”

Tỉnh Thừa Thiên Huế vừa công bố kế hoạch chi tiết cho “Festival Huế năm 2000”. Đây là một liên hoan lớn diễn ra trong 13 ngày từ 8/4 – 20/4/2000 với sự tham gia của khoảng 120 quan chức, văn nghệ sĩ, các chuyên gia kỹ thuật pháp; các bộ ngành Trung ương như Bộ Ngoại giao, Tổng cục Du lịch, Bộ Văn hoá – Thông tin… các đoàn ca nhạc Thăng Long, múa rối nước, các đoàn ca nhạc và đơn vị triển lãm của Thành phố Hồ Chí Minh, dân ca quan họ Bắc Ninh và lực lượng các đoàn nghệ thuật tại Huế. Liên hoan sẽ diễn ra ở gần 20 điểm như Quảng trường Ngọ Môn, Sân điện Thái Hoà, Sân điện Cần Chánh, Cung Diên Thọ Trường Đại học nghệ thuật, công viên 2 bờ sông Hương… Chương trình liên hoan gồm nhiều tiết mục hoành tráng, mang đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc như Lễ khai mạc tại Quảng trường Ngọ Môn trong đêm hoa đăng, lễ bế mạc trên sông Hương, các điểm biểu diễn nhã nhạc, múa cung đình, múa rối nước, ca múa nhạc Thăng Long, Hội thi thả diều, dạ tiệc ẩm thực 3 miền, đua thuyền trên sông Hương, Lễ hội Điện Hòn Chén, du lịch nhà vườn Huế, triển lãm ảnh Huế xưa, trình diễn thời trang, giới thiệu hàng thủ công mỹ nghệ Huế… Dự đoán sẽ có từ 20.000 đến 30.000 khách du lịch trong và ngoài nước đến Huế trong dịp này.
Đắk Lắk: Công ty cổ phần khách sạn Tây Nguyên tăng nhanh tốc độ phát triển
Công ty cổ phần khách sạn Tây Nguyên là đơn vị được hình thnàh từ việc tách khách sạn Tây Nguyên thuộc Công ty Du lịch tỉnh Đắk Lắk để cổ phần hoá và bắt đầu hoạt động từ 16 tháng 12 năm 1998. Qua 6 tháng đầu năm 1999, hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần khách sạn Tây Nguyên đã có tốc độ tăng cường rất nhanh.
Tổng doanh thu: 348.767.000 đồng, tăng 43% so với cùng kỳ năm 1998 (Năm trước khi cổ phàn hoá); Lợi nhuận: 82.507.000 đồng, tăng 31% so với cùng kỳ; Nộp ngân sách: 42.969.000 đồng, tăng 76,2% so với cùng kỳ; Thu nhập bình quân: 970.000 đồng/người/tháng (thu nhập bình quân năm 1998 là 594.000 đồng/người/tháng).
Nhằm đẩy nhanh hơn nữa tiến trình cổ phần hoá, năm 1999 Công ty Du lịch Đắk Lắk sẽ tiếp tục cổ phần hoá một đơn vị trực thuộc Công ty là: Khách sạn số 8 – Hai Bà Trưng để chuyển thành Công ty cổ phần. Đây là những kết quả rất đáng ghi nhận của một công ty du lịch nằm ở vùng cao Tây Nguyên.
T.T.N – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Trang phục bằng dao lam

Quần áo trang phục may bằng các chất liệu vải đã là chuyện thường tình. Mới đây một chất liệu mới đã được dùng để may thành quần áo. Đó là dao lam.
Trong hình là một bộ váy được xếp bằng nhiều chiếc dao lam tết lại đang được một người mẫu mặc và giới thiệu. Bộ váy với tiếng kêu loảng xoảng và tỏa sáng óng ánh đã làm toát mồ hồi nhiều khách tới tham quan.
Váy Tân Kỳ
May váy bằng vải kẻ sọc, carô, hoặc hình hoa sặc sỡ hay các hình kỷ hà vô quy tắc đã trở thành chuyện thông thường. Tuy nhiên mới đây một loại vải mới đã được dùng may váy. Đó là vải có in hình người với những nhân vật nổi tiếng kết hợp cùng chiếc áo bó sát màu đỏ hở nách, hở ngực. Kiểu trang phục mới này đã để lại cho mọi người những ấn tượng khó quên trong ăn mặc.
Trong hình là một người mẫu với bộ cánh kiểu mới đang trình diễn trước khán giả.
Hội chợ sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam – Lào
Từ ngày 1-6/9/1999, Trung tâm Hội chợ Triển lãm Việt Nam sẽ phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tổ chức “Hội chợ sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam – Lào” tại thủ đô Viên Chăn.
Mục đích của hội chợ này nhằm tăng cường quan hệ kinh tế giữa hai nước Việt – Lào, thực hiện các Hiệp định song phương với những ưu đãi nhằm tạo cơ hội cho các nhà doanh nghiệp hai nước giao lưu, tìm kiếm khả năng trao đổi thương mại, hợp tác đầu tư.
Hội chợ sẽ tập trung trưng bày các sản phẩm hàng hóa, máy móc thiết bị, phụ tùng phục vụ cho sản xuất kinh doanh công, nông, lâm nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng, công nghệ chế biến thực phẩm, dệt may, da giầy và các loại tiêu dùng khác. Đây cũng là cơ hội cho các đơn vị lữ hành Việt Nam xây dựng bổ sung tuyến điểm mới cho các chương trình du lịch sang Lào.
Cũng vào dịp này, Hội chợ có tổ chức tour du lịch Viên Chăn đi Thái lan 5 ngày 4 đêm.
Ngành du lịch Lâm Đồng tăng cường công tác thanh tra
Từ đầu năm đến nay, thanh tra sở Du lịch Lâm Đồng đã tiến hành 124 cuộc thanh – kiểm tra; trong đó có 110 lượt thanh kiểm tra các khách sạn, cơ sở lưu trú và 14 điểm tham quan, danh lam thắng cảnh như Thác Prenn, hồ Tuyền Lâm, hồ Than Thở…Qua kiểm tra, thanh tra Sở đã kịp thời phát hiện những sai phạm của các đơn vị, cơ sở, có ý kiến đề xuất chấn chỉnh nâng cao chất lượng phục vụ, giữ gìn tốt môi trường du lịch. Thanh tra sở đã phát hiện 10 cơ sở vi phạm các quy định về kinh doanh du lịch như trốn khách, kinh doanh trái phép, thiếu giấy chứng nhận đăng ký…Chuyển hồ sơ sang Công an xử lý 3 trường hợp.
Văn Thiêng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Thanh âm “Bầu trời xanh ’99 hòa với đất trời Hà Nội vào thu

Đây là lần thứ 5, “Bầu trời xanh” được tổ chức. Lần 1 là vào năm 1994. Ông Fukumura Yoshikazu vẫn là nhạc trưởng giống như những lần trước đó và một dàn nhạc không thể ai khác: Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam. Lần 1 được mở đầu với sự tham gia của Nghệ sĩ Nhân Dân Đặng Thái Sơn – nghệ sĩ piano nổi tiếng thế giới và lần này – “Bầu trời xanh ‘99” là tay violon trẻ Bùi Công Duy.
Làm việc với nhiều nhạc trưởng nổi tiếng trên thế giới, Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam ngày càng trưởng thành về mọi mặt: từ trình độ hòa tấu, khả năng biểu cảm, khả năng nhận thức tác phẩm đến phương pháp làm việc đạt hiệu quả cao. Khán giả yêu thích âm nhạc cổ điển ở Việt Nam đã có nhiều dịp chứng kiến sự tiến bộ vượt bậc về mặt chất lượng nghệ thuật của dàn nhạc. Riêng dưới đũa chỉ huy của nhạc trưởng Fukumura, những giai điệu kịch tính của Rossini; mạnh mẽ đầy sức chiến đấu của Beethoven; trăn trở, suy tư, lãng mạn của Brahms; buồn bã, ảm đạm, xót xa của De Lerue; tinh tế và trong vắt như pha lê của Mozart… đã vang lên từ trái tim, khối óc và bàn tay của các nghệ sĩ, làm rung động bao con tim khán giả. Tại Nhà hát Lớn Hà Nội lần này, “Bầu trời xanh ‘99” đã trình diễn những tác phẩm của Kodaly, Mozart và Brahms đầy kỹ thuật, chuẩn mực đến không thể chê trách, bắt bẻ. Những bản nhạc “Những điệu nhảy Galanta”, “Concerto cho đàn violon số 5”, “Bản giao hưởng số 1” đã được Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam chơi một cách xuất sắc. Người ta có thể cảm nhận được những giai điệu của những điệu nhảy Galanta rộn ràng, vui vẻ; bị lôi cuốn bởi âm thanh du dương, sâu lắng của âm nhạc Mozart hay sự mềm mại, uyển chuyển trong âm nhạc của Brahms với bản giao hưởng số 1 – được coi là bản sao thuần khiết của giao hưởng số 9 của Beethoven… Rất nhiều tràng vỗ tay của khán giả dành cho các nghệ sĩ.
Tay đàn violon trẻ Bùi Công Duy vẫn làm cho khán giả thán phục khi cùng dàn nhạc chơi bản “Concerto cho đàn violon số 5” của Mozart. Tiếng đàn điêu luyện, kỹ thuật mà không mất đi vẻ tinh tế, duyên dáng khiến ít ai có thể nghĩ đó là tiếng đàn của chàng trai mới 18 tuổi. Người ta vẫn không quên cái tên Bùi Công Duy đã xuất hiện ở Saint Petersburg năm 1997, đoạt giải nhất cuộc thi mang tên Tchaikovski dành cho các nghệ sĩ vĩ cầm trẻ tuổi. Hiện tại, Bùi Công Duy đang học tại nhạc viện Tchaikovski. Gần đây nhất anh đã tham gia biểu diễn với dàn nhạc Saint Petersburg – buổi hòa nhạc mở đầu cho đại hội quốc tế mang tên Virtuous 2000. Tương lai sáng lạng vẫn còn chờ Duy phía trước.
“Bầu trời xanh ’99” đã khép lại trong dư vị ngọt ngào của những thanh âm, của đất trời Hà Nội vào thu và đọng lại mãi trong lòng khán giả.
Linh Mai – Tuần Du Lịch – Số 37(89) Từ 13 -20/9/1999

Công trình mới ở Đền Hùng

Khu di tích lịch sử Đền Hùng là nơi thờ 18 đời vua Hùng nối tiếp được xây dựng trên núi Nghĩa Lĩnh từ thế kỷ XV. Nơi đây khi xưa chính là kinh đô của nhà nước Văn Lang. Trải qua các thời thì khu di tích lịch sử Đền Hùng luôn được coi trọng, tu sửa và tôn tạo. Đặc biệt vừa qua toàn bộ khu di tích Đền Hùng đã được tu sửa từ Đền Hạ, đến đền Thượng, đền Trung, đền Giếng. Các đơn vị thi công đã đưa về đây gần 40 mét khối gỗ từ Nghệ an, Thanh Hóa và hàng chục vạn viên ngói mũi (thời Lê, thời Nguyễn) cùng 2000 viên gạch Bát Tràng sơn và phục chế toàn bộ đồ thờ câu đối, đại tự, các ban, bệ thờ cũng được xây lại chỉnh chu.
Mặc dù di tích được tu sửa trang hoàng lộng lẫy, nhưng vẫn giữ được nét cổ kính, thiêng liêng. Đặc biệt năm nay còn xây dựng được một con đường mới và cây cầu vừa được xây dựng xong. Con đường vòng quanh núi Nghĩa Lĩnh. Đây là công trình được thực thi theo quyết định 63 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt từ năm 1994 vì nhu cầu thực tế về người về dự lễ hội ngày một tăng, như năm 1960 có 10 vạn người về dự hội đến năm 1970 lên tới 25 vạn người, năm 1980 là 35 vạn và năm 1995 có tới 50 đến 60 vạn, người ta dự đoán đến năm 2000 sẽ có 75 đến 80 vạn.
Bước qua 21 bậc đá, con đường mới giống như một bọc trứng lớn của mẹ Âu Cơ, hành hướng tiếp trên con đường về phía tây là những dãy núi uốn như mình rồng. Đây là khu rừng cấm quốc gia, người ta vừa phát hiện trên triền núi này có 2 hòn đá chồng lên nhau theo biểu tượng hình trống mái. Khi bước xuống 230 bậc đá là khu nhà nghỉ mới được thiết kế xây bằng bê tông cốt thép nhưng trát màu giả gỗ. Dưới phía sau là những trái núi nhấp nhô như những đàn voi nằm hổ phục chầu về núi Nghĩa Lĩnh. Nhìn xa xa là thành phố Việt Trì. Tiếp bước xuống khỏi 354 bậc đá là gặp cây cầu bắc qua thung lũng suối khe cạn được gọi là “cầu hành hương” vừa được xây dựng trên núi Nghĩa Lĩnh do Công ty tư vấn xây dựng Phú Thọ thiết kế. Cột bằng bê tông cốt thép trát giả ỗ, cầu dài 18 m biểu tượng cho 18 đời vua Hùng 2 bên cầu đều được các nhà thiết kế chọn mẫu từ các hoa văn trống đồng. Khi bước lên đến giữa đỉnh cầu ta có cảm giác như đang đứng trên cáng kiệu vì 2 đầu cầu có 4 cây cổ thụ, như 4 lực sĩ đang khiêng rước. Qua cầu đi tiếp 109 bậc đá nữa là đến Ao Sen – đền Giếng nơi thờ 2 Tiên Cô và giống Ngọc. Đi trên con đường và cái cầu mới, chúng ta có thể thưởng ngoạn được tất cả vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ của một vùng rộng lớn. Do vậy để có được con đường và cây cầu phải trải qua thời gian dài nghiên cứu và lập phương án, ngay công tác chọn tuyến ban đầu cũng mất 9 lần luôn rừng leo núi, vạc lối, để rồi lần thứ 13 đoàn bảo tồn bảo tàng bộ Văn hóa thể thao, cùng Ủy ban nhân dân và sở Văn hóa thể thao tỉnh mới phê duyệt lần chót. Công trình được Công ty xây dựng và kinh doanh nhà Phú Thọ nhận thi công. Tổng chiều dài toàn tuyến là 725 m kết cấu mặt đường rộng 2 m, mặt đường và bậc được lát bằng đá Hải Lựu, Bạch Lựu mỗi viên đá lát mặt đường nặng 180 kg. Tổng tuyến đường 689 bậc và 9,5 m3 đá, 2 bên vỉa lan can cũng lát hết 458 m vuông đá. Trên tuyến đường còn xây dựng 70 trụ đá, mỗi trụ nặng 579 kg.
Công việc chuyển vật liệu từ chân núi lên đỉnh núi đều bằng sức người, mỗi người đi bộ lên xuống mỗi ngày được từ 8 đến 12 lượt, cứ 2 người khiên 1 viên đá lát đường, một 1 mét khối cát sỏi phải gánh từ 50 đến 60 gánh mới hết. Hơn 400 tấn đá Hải Lựu và hàng chục, hàng trăm tấn cát sỏi, xi măng, sắt thép phải vận chuyển từ chân núi lên với độ dốc trung bình 63 độ và chiều cao hơn 700 m. Đến nay công trình đã hoàn thành và được Tỉnh ủy, UBND tỉnh Phú Thọ ngợi khen và cho rằng công trình đạt ý đồ trùng tu tôn đạo.
Công trình xây dựng khu di tích lịch sử Đền Hùng được thi công vào cuối thế kỷ mang đầy ý nghĩa sâu xa uống nước nhớ nguồn.
Phạm Công Đảo-Tuần Du Lịch-Tổng cục Du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999